Hàng chục năm nay, Đảng và Nhà nước có chủ trương giao cho Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật tổ chức Hội thi sáng tạo kỹ thuật; chủ trương này ngày càng được khẳng định và đáp ứng nhu cầu đời sống, sản xuất ngày càng tốt. Nhất là trong thời kỳ 4.0 thì Hội thi Sáng tạo kỹ thuật càng bức thiết.

Cơ sở tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật

Từ cơ sở pháp lý và thực tiễn, Hội thi Sáng tạo kỹ thuật trở thành trách nhiệm, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân không phân biệt thành phần kinh tế và tầng lớp người trong xã hội. Đảng và Nhà nước luôn luôn khuyến khích các cá nhân và tập thể có điều kiện nên tham gia và đều có cơ hội tham gia.

Máy xắt rau - chuối đa năng Sản phẩm hiệu quả tại Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh được tác giả đưa ra thị trường ngày càng được cải tiến hoàn thiện

Từng lần tổ chức Hội thi, UBND tỉnh có quyết định thành lập Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật cấp tỉnh và giao cho Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh chủ trì phối hợp với các sở ngành liên quan thực hiện, trong đó chủ yếu là các ngành: Sở Khoa học và Công nghệ, Liên đoàn lao động tỉnh, Tỉnh đoàn, Ban Tuyên Giáo Tỉnh ủy, Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội Nông dân, Đài Phát thanh và Truyền hình…

UBND tỉnh có nhiều văn bản chỉ đạo, trong đó đặc biệt Công văn số 4049/ UBND-KGVX ngày 30/5/2018 “Về việc triển khai Hội thi Sáng tạo kỹ thuật toàn quốc lần thứ 15 (2018-2019)”; công văn này quy định về thành lập Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật cấp huyện và thành phố, đồng thời có cơ chế về kinh phí hoạt động. Từ đây ta thấy 2 vấn đề: (1) UBND tỉnh ngày càng quan tâm về Hội thi, (2) Tháo gỡ được 2 nút thắt là tổ chức và kinh phí, tạo điều kiện tốt cho phát triển Hội thi.

Một số nét về kết quả Hội thi Sáng tạo kỹ thuật

Hội thi ngày càng phát triển thành phong trào. Có thể dẫn một vài minh chứng như sau: Số lượng giải pháp dự thi lần thứ VI (2018-2019) đạt 257,2% so với lần thứ V (2016-2017); lần thứ V còn một số huyện không có giải pháp dự thi, lần thứ VI các huyện đều có giải pháp dự thi, dù mức độ số lượng giải pháp chênh lệch giữa các địa phương còn cao;

Huyện có nhiều giải pháp và đạt tốc độ tăng mạnh so với lần thứ V là Ngọc Hiển đạt 1.600%, huyện Năm Căn đạt 750%, huyện Đầm Dơi đạt 233,3%, thành phố Cà Mau đạt 208,3%, huyện Cái Nước đạt 155%. Về số lượng giải pháp dự thi lần VI: Tóp nhiều giải pháp tham gia có huyện Ngọc Hiển 32, huyện Cái Nước 31, thành phố Cà Mau 25; tóp ít giải pháp tham dự có huyện U Minh 2, huyện Thới Bình 3, huyện Phú Tân 4.

Qua 6 lần tổ chức hội thi có 529 giải pháp tham dự. Có 140 giải pháp đoạt giải gồm: giải nhất 6, giải nhì 12, giải ba 33, giải khuyến khích 89. Tham gia Hội thi toàn quốc 4 lần đoạt 01 giải ba và 3 giải khuyến khích.

Phân tích giải pháp tham dự từ các lĩnh vực: Công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông chiếm 16,26%; cơ khí, xây dựng, giao thông vận tải chiếm 15,38%; ngư nghiệp, nông nghiệp và môi trường chiếm 20,44%; năng lượng, vật liệu, hóa chất chiếm 1,54%; y tế, giáo dục và các lĩnh vực khác chiếm 46,37%. Ngoại trừ lĩnh vực năng lượng, hóa chất, vật liệu thì các lĩnh vực còn lại phù hợp với điều kiện Cà Mau.

Tính đa dạng của tác giả

Tác giả các giải pháp tham gia Hội thi rất đa dạng, nhiều người qua đào tạo đại học như nhóm tác giả giải pháp “Sáng kiến cải tiến dụng cụ tháo ghim bấm trên da bệnh nhân bằng phương pháp stapler tại Bệnh viện Đa khoa Đầm Dơi” gồm các bác sĩ: Trang Chí Cường, Lê Mỹ Nương, Lâm Hoàng Kha; nhóm tác giả giải pháp “Cải tiến bình phun khói phục vụ khai thác mật ong đảm bảo an toàn phòng chống cháy rừng” gồm các ông: Lý Văn Nhạn – Kỹ sư nông nghiệp, Dương Như Huỳnh – Kỹ sư môi trường; Hồ Văn Huy Dũng – Cử nhân khoa học; giải pháp “Lú ba hom” của tác giả Nguyễn Ngọc Vui – Kỹ sư nuôi trồng thủy sản…

Nhiều tác giả chưa qua chương trình đại học như: Giải pháp “Ứng dụng nguyên lý Venturi để tự động hóa công tác pha bột clo trong khử trùng nước sinh hoạt” của tác giả Huỳnh Tấn Công; giải pháp “Nuôi rắn ri tượng” của tác giả Lê Văn Đáng; giải pháp “Thiết kế lú bắt tôm còi trong đầm nuôi tôm công nghiệp” của tác giả Huỳnh Thanh Hiền; giải pháp “Thiết kế đập, làm bờ giữ nước nuôi tôm” của tác giả Trần Văn Của…

Những điển hình trên có thể nhận ra các giải pháp sáng tạo kỹ thuật có tính khoa học và thực tiễn, nó xuất hiện trong đời sống và sản xuất, là sản phẩm của những người đam mê sáng tạo, không dành cho riêng ai, cũng không nhất thiết là những người phải qua đào tạo hay các nhà khoa học. Là sản phẩm xuất hiện từ đời sống và sản xuất nên dễ lan tỏa và có tính bền vững cao. Tất nhiên cũng có giải pháp phát huy trong thời gian nhất định.

Sau đây xin điển hình vài giải pháp trong hàng trăm giải pháp đã, đang và tiếp tục phát huy tác dụng:

- “Giải pháp mô hình áo và gối hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ” của nhóm bác sĩ: Trần Nguyệt Hoàng, Trương Minh Kiển, Lâm Mỹ Linh; tác dụng của áo và gối là dễ mặc, lịch sự, che chắn vùng bụng dưới (vết mổ), làm giảm đau khi bé đạp vào vết mổ, người mẹ tự tin, giảm cảm giác đau khi cho con bú ngay sau khi sinh kết quả là nguồn sữa sẽ được tạo ra nhiều hơn giúp bé đào thải phân su sớm khi tận hưởng được nguồn sữa non và phát triển tốt. Giải pháp ra đời hơn 10 năm và đang áp dụng tại nhiều bệnh viện.

- Giải pháp “Máy ép bạc cây (bạc gỗ) siêu tốc” của Văn Khén. Vùng sông nước và mặn như Cà Mau phổ biến dùng máy thủy như vỏ lải, máy nổ sên bùn, máy đuôi tôm… không sử dụng ổ bi mà thay là bạc gỗ. Bạc gỗ nếu máy chạy nhiều thì khoảng 20 ngày phải thay bạc, mỗi lần thay bạc bằng kỹ thuật truyền thống mất nhiều thời gian; nếu sử dụng kỹ thuật ép bạc sẽ giảm ¾ thời gian và chất lượng tốt. Giải pháp này ra đời từ năm 2011 và được nhiều cơ sở áp dụng, đến nay chưa có giải pháp mới thay thế.

- Giải pháp “Máy xắt chuối – rau đa năng” của nhóm tác giả Phan Tấn Phong và Lý thị Lan. Công dụng của máy là xắt thân cây chuối, rau, cỏ, lục bình… loại có thân mềm hoặc tương đối cứng, có thể điều chỉnh lát xắt dày mỏng, bằm to, mịn làm thức ăn chăn nuôi hoặc ủ phân hữu cơ. Cấu tạo máy đơn giản, gọn nhẹ, dễ di chuyển; sử dụng mo-tơ dòng điện 220v – 1 pha. Máy có thể thu nhỏ; thay vật liệu lắp ráp bằng nhôm hoặc Inox; công suất đạt từ 1 – 1,2 tấn/1h. Giá xuất xưởng mỗi máy khoảng 7 triệu đồng; cơ sở Tấn Phong (tác giả) có một số cải tiến so với nguyên bản và thời gian khoảng 2 năm nay đưa ra thị trường hơn 450 máy.

- “Giải pháp tác tác nghiệp trong thực hiện quản lý thiết kế cống thủy lợi” của nhóm tác giả Tô Quốc Nam và Nguyễn Văn Sol. Nội dung chủ yếu của giải pháp là công trình được xây dựng ngay trên dòng sông, không phải dẫn dòng, không làm đê quai nên không đền bù mặt bằng như sử dụng công nghệ truyền thống. Nó kết hợp được giao thông thủy và giao thông bộ cả qui mô lớn (do qui mô công trình). Đặc biệt giá thành thấp hơn khoảng 30 – 50%, ít tác động xấu đến môi trường trong quá trình thi công. Giải pháp này có khả năng ứng dụng trên vùng đất Cà Mau và những nơi tương tự như Cà Mau. Bộ Khoa học và Công nghệ có ý kiến nên hoàn thiện thành đề tài khoa học để áp dụng rộng hơn.

- Giải pháp “Nuôi tôm tít (Bề Bề) trong lồng nhựa” của tác giả Mai Trí Thật. Tôm tít có nhiều phương pháp nuôi nhưng nuôi trong lồng nhựa có ưu điểm riêng là dễ kiểm soát và chăm sóc, không cần diện tích lớn, có thể kết hợp trong đầm nuôi của các đối tượng khác, hiệu quả kinh tế và xã hội cao. Giải pháp có khả năng ứng dụng cao và đang phát triển tốt.

Có một số giải pháp chỉ ứng dụng trong giai đoạn nhất định như:

- Năm 2011, giải pháp “Phần mềm quản lý bệnh viện “HOSSOFT phiên bản 3.0” của nhóm tác giả: Huỳnh Ngọc Tiễn, Nguyễn Chí Dũng, Nghê Phước Nghiệp. Nội dung giải pháp đáp ứng tốt các yêu cầu về: quản lý hàng hóa; quản lý tài chính; quản lý khám chữa bệnh; quản lý cấp phát thuốc; quản lý viện phí; quản lý khám chữa bệnh theo BHYT; quản trị hệ thống. Phần mềm đơn giãn, dễ triển khai, chi phí ít, hiệu quả cao và được áp dụng rộng rãi ở các bệnh viện, song sức sống chỉ vài năm vì sau đó Bộ Y tế xây dựng phần mềm liên thông cả nước.  

- Giải pháp “Đào tạo dạy nghề, giải quyết việc làm năm 2011 huyện Đầm Dơi” của tác giả Thái Văn Lơi. Nội dung chủ yếu là truyền nghề tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật từ 1 - 3 ngày mà hình thức chính là tổ chức hội thảo đầu bờ ngay trên đầm nuôi tôm quảng canh cải tiến hoặc tôm công nghiệp. Giải pháp này ứng dụng trong các trường dạy nghề nên gọi là mới; thật sự thì hệ thống khuyến nông thực hiện từ sau năm 2000 và hình thức, nội dung càng ngày càng phong phú, đa dạng, sát yêu cầu sản xuất. Nên giải pháp dự thi chỉ phát huy được vài năm đầu ở vài cơ sở dạy nghề.  

Có giải pháp không thể nhân rộng như:        

- Giải pháp “Thiết kế đập, làm bờ giữ nước nuôi tôm” của tác giả Trần Văn Của. Nội dung chủ yếu là đào bờ sâu hơn đáy ao từ 20 – 30 cm, đưa mê bồ xuống, dùng cao su ốp 2 bên, sau đó lấp đất ép thành bờ; tác dụng ngăn được nước thẩm thấu và cua, còng khoét từ bờ ao đầm. Xét về lý thuyết thì hiệu quả, song công lao động cao, mặt khác kỹ thuật trải bạt ngày càng phổ biến và rất hiệu quả nên giải pháp không thể nhân rộng.  

- Giải pháp “Máy xới đất vuông tôm và hút ốc đinh KHT 2015” của nhóm tác giả: Văn Khén, Văn Hữu, Văn Hữu Trung. Nội dung chủ yếu xới mặt đất trong đầm nuôi tôm để cải tạo và hút được ốc đinh là vật gây tác hại cho tôm nuôi; theo thiết kế thì máy có các bộ phận rời dễ lắp ráp nên di chuyển tiện lợi. Về lý thuyết máy thành công, nhưng do trình độ kỹ thuật hạn chế nên khi thử nghiệm máy hoạt động không đáp ứng mục tiêu đặt ra, mặc khác tác giả không đủ vốn đầu tư hoàn thiện, vì vậy máy vẫn nằm trong xưởng từ năm 2017.

Về ưu điểm, hạn chế của tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật được thể hiện trong bài “Hội thi Sáng tạo kỹ thuật lần thứ VI” đăng trên Mục Hội thi sáng tạo kỹ thuật – Trang Thông tin điện tử Liên hiệp Hội Khoa học và Kỹ thuật Cà Mau, vì vậy không trình bày.

Sau đây xin nhận định về tình hình ứng dụng các giải pháp dự thi đoạt giải đã qua như sau:

Có không ít người cho rằng Nhà nước chưa có cơ chế, chính sách thỏa đáng để ứng dụng các giải pháp kỹ thuật đoạt giải; hoặc ít tạo điều kiện cho người sản xuất tiếp cận các giải pháp.

Nhìn lại nhóm giải pháp dự thi đoạt giải đang ứng dụng rộng rãi mà 4 giải pháp điển hình nêu trên, Nhà nước hoàn toàn không hỗ trợ tài chính mà chỉ có cơ chế khuyến cáo chung, nhưng sức sống của các giải pháp ấy khá mãnh liệt. Giải pháp xắt chuối – rau đa năng, người có nhu cầu đến đặt hàng tác giả khó phục vụ hết; giải pháp Máy cày siêu nhẹ tác giả cũng tự sản xuất bán ra hàng trăm cái, dù mỗi cái giá trên 14 triệu đồng. Giải pháp nuôi tôm tít trong lồng nhựa tự lan tỏa mạnh, dù cơ quan chức năng chưa kịp khuyến cáo, song hiệu quả kinh tế - xã hội thuyết phục. Giải pháp mô hình áo và gối hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ được các bệnh viện ứng dụng tốt…

Qua đây cho phép ta đi đến kết luận rằng giải pháp nào phù hợp với yêu cầu đời sống và sản xuất thì nó tồn tại và phát huy. Tuy nhiên khoa học ngày càng phát triển đòi hỏi tác giả luôn cập nhật cải tiến, nếu không thì cái tiên tiến hôm qua có thể rơi vào lạc hậu hôm nay. Nhóm tác giả giải pháp Máy xắt chuối – rau đa năng đã vài lần cải tiến; giải pháp Máy cày siêu nhẹ cũng được tác giả cải tiến ngày càng hoàn thiện hơn...

Các giải pháp tuổi thọ ngắn hoặc không ứng dụng được do không theo kịp yêu cầu của sản xuất và đời sống như Thiết kế đập, làm bờ giữ nước nuôi tôm, hoặc nội dung giải pháp không rộng, không sâu như Đào tạo dạy nghề, giải quyết việc làm năm 2011 huyện Đầm Dơi; cũng có giải pháp mang tính địa phương khi có giải pháp ứng dụng toàn quốc như Phần mềm quản lý bệnh viện “HOSSOFT phiên bản 3.0”; có giải pháp chưa thành sản phẩm hoàn thiện như Máy xới đất vuông tôm và hút ốc đinh KHT 2015.

Như vậy, giải pháp phù hợp với đời sống và sản xuất, có hiệu quả tốt dù Nhà nước không tài trợ nó vẫn phát triển tốt, thậm chí ai muốn hạn chế nó cũng không được; ngược lại giải pháp không còn phù hợp, không hiệu quả dù Nhà nước hoặc ai đó ra sức hỗ trợ nó vẫn “chết yểu”.

Từ các nhận định trên, những lần Hội thi sáng tạo kỹ thuật tới phải khuyến cáo mạnh hơn đối với các tác giả cần nghiên cứu những giải pháp phù hợp yêu cầu cuộc sống, hiệu quả kinh tế và xã hội tốt mà Thể lệ Hội thi có hướng dẫn. Nhà nước tạo điều kiện để người sử dụng tiếp cận dễ dàng, tác giả tiếp xúc thị trường thuận tiện, Nhà nước không nhất thiết tài trợ về tài chính, nếu có chăng chỉ hỗ trợ trong quá trình nghiên cứu./.

Phạm Văn Đức