Ở Châu Âu, sau khi đánh chiếm Ba Lan, tháng 6/1940, phát xít Đức chuẩn bị và tấn công các nước Pháp, Bỉ, Luxembourg, Hà Lan. Phát xít Đức tấn công, nước Pháp thua trận. Chính phủ Pháp tuyên bố đầu hàng, chịu sự thống trị của phát xít Đức. Tại Châu Á, trước chiến tranh thế giới II bùng nổ Nhật cơ bản đã chiếm xong Trung Quốc… Toàn thế giới đang bị đe dọa bởi chủ nghĩa phát xít.

Nước Việt Nam đang là thuộc địa của thực dân Pháp. Sự kiện nước Pháp đầu hàng phát xít Đức tháng 6/1940 là một trong những điều kiện thuận lợi cho cách mạng. Nhưng, ngày 22/9/1940, phát xít Nhật từ Trung Quốc đánh vào Lạng Sơn, quân Pháp không còn hồn vía nào để chiến đấu, nên đã bỏ chạy. Đảng bộ Bắc Sơn đánh giá là thời cơ đã tới, quyết định phát động nhân dân khởi nghĩa ngày 23/9/1940. Ngay ngày sau 24/9, Nhật bắt tay với Pháp, đồng chiếm Việt Nam và Đông Dương… Khởi nghĩa Bắc Sơn bị đàn áp. Một bộ phận các chiến sỹ khởi nghĩa chạy vào rừng thành lập Đội du kích Bắc Sơn. Tất cả những diễn biến này đều diễn ra đúng như dự kiến của Hội nghị Trung ương 6 (khóa I), tại Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ. Chiến tranh đế quốc đang đe dọa sự tồn vong của quốc gia, dân tộc, nhưng  chính nó sẽ tạo ra những cơ hội cho cách mạng. Toàn dân bắt tay vào xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương; chuẩn bị xây dựng lực lượng để khi có thời cơ, đứng dậy giành chính quyền. Tại Nam bộ, binh lính người Việt bị Pháp bắt đi đánh nhau ở biên giới Campuchia - Xiêm, khi quân Xiêm lấn đất Campuchia (đất thuộc địa Pháp). Cộng với các chính sách thuộc địa tàn bạo đang duy trì tại Nam bộ, nhân dân và binh lính người Việt căm thù cao độ, sẵn sàng vùng lên. Trước tình hình đó, Xứ ủy Nam bộ đứng đầu là Bí thư Võ Văn Tần, sau đó, đồng chí Võ Văn Tần được điều động về Trung ương, đồng chí Tạ Uyên được bầu làm Bí thư đã bàn bạc và quyết định khởi nghĩa. Đồng chí Phan Đăng Lưu được cử ra xin ý kiến Trung ương. Hội nghị Trung ương VII, dưới sự chủ trì của đồng chí Trường Chinh (đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã bị thực dân Pháp bắt) đã phân tích tình hình, xác định thời cơ chưa tới nên quyết định đình chỉ khởi nghĩa Nam kỳ. Do tình hình biến động nhanh chóng, tại Nam bộ, Xứ ủy đã quyết định khởi nghĩa vào đêm 22 rạng ngày 23/11/1940. Đồng chí Phan Đăng Lưu về đến Sài Gòn trưa 22/11, truyền đạt quyết định đình chỉ khởi nghĩa của Trung ương. Nhưng Lệnh khởi nghĩa đã phát đi từ sáng sớm. Đầu giờ chiều 22/11/1940, đồng chí Phan Đăng Lưu bị bắt.

Tại Cà Mau, ngay từ đầu tháng 5/1940, sau Hội nghị đại biểu Đảng bộ về triển khai chuẩn bị khởi nghĩa và củng cố tổ chức đã dấy lên phong trào xây dựng, củng cố các đoàn thể quần chúng, chuẩn bị sẵn sàng cho khởi nghĩa. Tháng 10/1940, để chuẩn bị cho khởi nghĩa Hòn Khoai, Ban Thường vụ Tỉnh ủy phân công đồng chí thầy giáo Phan Ngọc Hiển và 02 cốt cán là Nguyễn Thị Quýt và Ngô Văn Giai ra đảo để gây dựng cơ sở.  Ở Hòn Khoai khi đó có một số gia đình có người thân phục vụ cho việc canh gác đèn biển sinh sống. Thầy giáo Phan Ngọc Hiển đã ra đảo dạy học và hoạt động ở đây từ năm 1939. Khi ra đảo, thầy Hiển đến ở trọ và sinh sống trong gia đình ông bà Lê Văn Hành. Tại đây, vừa dạy chữ, vừa dạy người, Phan Ngọc Hiển đã giác ngộ các con cháu của gia đình Lê Văn Hành và thông qua đó, tập hợp được những người Việt đang làm các nhiệm vụ canh gác Hải đăng.

Ngày 23/11/1940, nhận được lệnh khởi nghĩa, Tỉnh ủy Bạc Liêu đã triệu tập Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng tại Lung Lá Nhà Thể ngày 26, 27/11/1940 quyết định kế hoạch khởi nghĩa. Hội nghị đã nhất trí khởi nghĩa tại 3 khu vực. Khu vực 1, Năm Căn, Hòn Khoai, đồng chí Quách Văn Phẩm, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách; đồng chí Phan Ngọc Hiển trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa Hòn Khoai. Khu vực II, thị trấn Cà Mau và các địa bàn xung quanh, đồng chí Trần Văn Thời, Bí thư Tỉnh ủy phụ trách. Khu vực III, thị xã Bạc Liêu và xung quanh khu vực Bạc Liêu, đồng chí Trần Văn Phán, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách. Hội nghị đã nhất trí chọn Hòn Khoai làm điểm mở đầu cho cuộc khởi nghĩa.

Để thực hiện kế hoạch khởi nghĩa, ngày 5/12/1940, Tỉnh ủy triệu tập đại diện các Chi bộ khu vực Năm Căn để quyết định thời gian và kế hoạch cụ thể khởi nghĩa ở khu vực này. Khởi nghĩa Hòn Khoai sẽ tiến hành vào 21 giờ ngày 13/12/1940.

Do địch tăng cường kiểm tra, kiểm soát, bắt bớ, giao thông hết sức khó khăn, ngày 12/12/1940, đồng chí Bông Văn Dĩa mới chuyển được Nghị quyết khởi nghĩa Hòn Khoai đến Phan Ngọc Hiển.

Nhận được Nghị quyết, Phan Ngọc Hiển triệu tập cuộc họp Chi bộ mở rộng. Hội nghị Chi bộ đã nhất trí thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy đúng thời điểm 21 giờ ngày 13/12/1940 (đúng 21 giờ, Chúa đảo Olivier  đến phòng điện đài để giao báo cáo cho nhân viên điện đài để chuyển về Sài Gòn). Ngay tại Hội nghị Chi bộ này, Phan Ngọc Hiển đã tuyên bố kết nạp vào Đảng 02 đồng chí là Nguyễn Văn Đắc và Đỗ Văn Sến.

Đúng như dự kiến, 21 giờ 13/12, Chúa đảo Olivier xuống phòng điện đài để đưa báo cáo cho nhân viên điện báo. Các đồng chí Sến, Đắc, Cẩn, Đình đã áp sát, xông tới quật ngã Olivier. Chúa đảo bị bất ngờ, vùng vẫy dữ dội. Hắn cắn đứt lìa ngón tay của đồng chí Đắc. Sợ hắn vùng thoát, đồng chí Cẩn đã lấy một hòn đá đập vào đầu hắn. Olivier chết ngay tại chỗ… Các chiến sỹ khởi nghĩa đã vào kho thu gom vũ khí, xuống tàu trở về đất liền để phối hợp tiếp tục cuộc khởi nghĩa.

Cuộc khởi nghĩa tại Hòn khoai đã hoàn toàn thắng lợi

Tại đất liền Tân Ân, Rạch Gốc, ngày 12/12/1940, Tỉnh ủy nhận được lệnh đình chỉ khởi nghĩa nên đã nhanh chóng truyền đạt mệnh lệnh, phân tán lực lượng. Khi đoàn quân chiến thắng Hòn Khoai trở về không nhận được thông tin, nên sáng 15/12/1940, Phan Ngọc Hiển chỉ huy lực lượng tấn công vào Quận kiểm lâm. Tên Đốc Đông, Trưởng kiểm lâm ở Thủ Tam Giang kinh sợ, đầu hàng và giao toàn bộ vũ khí cho lực lượng khởi nghĩa.

Trưa ngày 16/12/1940, sau khi nghe tin Hòn Khoai thất thủ, thực dân Pháp cho 02 tàu chở lính xuống đàn áp lực lượng khởi nghĩa nhằm lập lại trật tự. Sau khi tiêu diệt 01 tên địch, Phan Ngọc Hiển bố trí ba đồng chí ở lại để hướng dẫn nhân dân nhanh chóng sơ tán, số đồng chí còn lại rút vào rừng. Địch dồn sức bắn phá, cướp bóc, bắt người, đốt sạch nhà cửa của nhân dân, lần theo dấu vết, truy kích các chiến sỹ khởi nghĩa. Sau một tuần luồn rừng, đói khát, hết lương thực, không còn nước ngọt, lực lượng khởi nghĩa đã đến được bãi Khai Long  trong tình trạng kiệt sức. Địch khép vòng vây, bắt được các đồng chí Phan Ngọc Hiển, Đỗ Văn Sến, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Văn Cự, Ngô Kinh Luân, Nguyễn Văn Giữ, Bông Văn Nở, Dương Văn Giai, Diệp Văn Búp… chúng tiếp tục truy bắt các đồng chí, đồng bào tham gia khởi nghĩa Hòn Khoai…

Sau sáu tháng giam cầm, tra tấn không khuất phục được các chiến sỹ Hòn Khoai, sáng ngày 12/7/1941, tại sân vận động thị trấn Cà Mau, thực dân Pháp đưa 8 chiến sỹ Hòn Khoai, cùng 2 đảng viên là Lê Văn Khuyên (Chi bộ thị trấn Cà Mau) và Quách Văn Phẩm, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra xử bắn.

Mười đồng chí đã dũng cảm, hiên ngang ra pháp trường. Trước đông đảo quần chúng và bọn thực dân cướp nước, bọn tay sai bán nước, Phan Ngọc Hiển đã giật tung dải băng đen bịt mắt, anh dõng dạc tuyên bố: “Chúng tôi sẵn sàng chết để tranh đấu cho đồng bào được ấm no, nhứt định những người kế tục chúng tôi sẽ tiêu diệt thực dân Pháp! Nhất định Việt Nam sẽ hoàn toàn độc lập” (1).

Phan Ngọc Hiển và các chiến sỹ đã hô to át cả tiếng súng của quân thù:

“Đả đảo đế quốc Pháp!

Đông Dương độc lập muôn năm!

Đảng Cộng sản Đông Dương muôn Năm!”(2)

Phan Ngọc Hiển và 9 chiến sỹ đã ngã xuống, máu của các anh đã góp phần tô thắm cho cờ Đảng quang vinh, ngọn cờ đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại và giải phóng con người.

Các chiến sỹ Hòn Khoai ngày hy sinh, họ còn rất trẻ, thầy giáo Hiển là một trong số những người lớn tuổi trong số đó mới ở tuổi 30, đã không tiếc tuổi thanh xuân của mình vì lý tưởng cao cả đánh đưổi thực dân, đế quốc, giải phóng dân tộc, đem lại sự thanh bình cho quê hương, đất nước, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Tấm gương của thầy giáo, người anh hùng Phan Ngọc Hiển là tấm gương không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh đem ánh sáng của sự giác ngộ cách mạng, của giáo dục đến với đồng bào ở những vùng xa xôi khó khăn. Anh đã sống trọn vẹn với lý tưởng của Đảng, cháy hết mình vì lý tưởng ấy: vì hạnh phúc của nhân dân.

Sống cùng dân, cùng ăn, cùng ở với dân, gần gũi nhân dân, nhân dân vùng Tân Ân, Rạch Gốc, Hòn Khoai đã coi Phan Ngọc Hiển như người ruột thịt của mình, bởi vì thầy giáo Phan Ngọc Hiển đã truyền đạt cho họ và con em họ niềm tin, lẽ phải và chân lý làm người, anh còn là người không chỉ truyền dạy mà còn là con người luôn luôn làm gương, dạy người bằng chính những hành vi cao đẹp, ngời lên những đạo lý làm người của chính mình.

Người anh hùng Phan Ngọc Hiển là một tấm gương hết lòng trung thành với Đảng, tuân thủ Nghị quyết và kỷ luật của Đảng, sống hết mình vì Đảng, vì lý tưởng của Đảng vì sự nghiệp của Đảng quang vinh.

Dù đã hy sinh, nhưng cuộc đời và sự nghiệp của Phan Ngọc Hiển, của các chiến sỹ Hòn Khoai mãi mãi là ngọn Hải đăng soi đường cho các thế hệ kế tục sự nghiệp của các anh sống xứng đáng với sự hy sinh cao cả của các anh, cống hiến hết mình cho sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa,  dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh.

Nguyễn Thế Cường