Cơ sở Pháp lý

Nhiệm vụ của hai tổ chức này được xác định tại Điều lệ của mình và được cơ quan nhà nước thẩm quyền công nhận. Đối với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc là “…xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị nhằm thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân…”. Đối với Liên hiệp Hội là “…tập hợp, đoàn kết đối ngũ trí thức khoa học và công nghệ người Việt Nam ở trong và ngoài nước…” nhằm tạo điều kiện cho lực lượng trí thức cống hiến sức mình cho công cuộc xây dựng đất nước; là cầu nối giữa các tổ chức hội thành viên với các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc… nhằm giải quyết những vấn đề chung đối với trí thức; là đại diện, bảo vệ lợi ích hợp pháp của lực lượng trí thức. 

Có thể hiểu nhiệm vụ của Liên hiệp Hội là bộ phận trong nhiệm vụ tổng thể của Ủy ban Mặt trận nhưng đi sâu vào lực lượng trí thức khoa học - công nghệ. Nhiệm vụ này cũng xác định rõ phải hoạt động phối hợp. Vấn đề là phối hợp nội dung cụ thể nào, phương châm, phương pháp phối hợp ra sao. Trong đó lĩnh vực giám sát, giám định và phản biện là khá tương đồng; sau đây đi sâu lĩnh vực này.

Đảng và Nhà nước có nhiều chỉ thị, nghị quyết, quyết định, hướng dẫn về hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Liên hiệp Hội, trong đó có xác định nhiệm vụ tư vấn, giám sát, giám định và phản biện xã hội của hai hệ thống.

Tại Quyết định số 217-QĐ/TƯ, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy chế “Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” thì giám sát là “việc theo dõi, phát hiện, xem xét, đánh giá kiến nghị nhằm tác động đối với cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Phản biện xã hội là “việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước”.

Tại Quyết định số 14/2014/QĐ-TTg ngày 14/2/2014 của Thủ tướng Chính phủ về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Kho học và Kỹ thuật Việt Nam thì “Tư vấn là hoạt động cung cấp tri thức, kinh nghiệm, thông tin, tư liệu cùng sự phân tích, đánh giá, kiến nghị cho cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền”. Phản biện là “hoạt động đưa ra nhận xét, đánh giá, phê bình và các khuyến nghị về sự phù hợp của nội dung đề án với mục tiêu và các điều kiện đã quy định hoặc thực trạng đặt ra”. Giám định là “hoạt động xác định tính khoa học, tính thực tiễn, tính khả thi của đề án hoặc một vấn đề, xét về  sự việc cụ thể”.     

Các định nghĩa trên thì những vấn đề giống nhau giữa hai bên là: Cùng mục tiêu giúp cơ quan thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ tốt hơn; về nội dung bao gồm chủ trương, chính sách, chương trình, dự án, đề án (cả lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội)… đối tượng là những chủ thể đó; về trách nhiệm chỉ khuyến nghị và trách nhiệm xã hội, chứ không phải pháp lý.

Trên thực tế nhiều vấn đề có cả tính chất xã hội và tự nhiên đan xen như: giám định xã đạt chuẩn nông thôn mới bao gồm các tiêu chí xây dựng cơ bản, các tổ chức chính trị, đời sống văn hóa..., phản biện dự án thủy lợi là khoa học tự nhiên nhưng thái độ người dân đối với dự án đó thế nào thì thuộc khoa học xã hội. Có thể nói không phải sự khác biệt mà chỉ không khớp hoàn toàn về tính chất chủ yếu; điều này không ngăn cản sự phối hợp. Sự khác nhau còn ở phương pháp thực hiện và cơ chế tài chính.           

Trên cơ sở các văn bản pháp lý hiện hành, hàng năm có chương trình phối hợp giữa Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Trung ương các đoàn thể chính trị - xã hội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Đây là cơ sở để các địa phương xây dựng Chương trình phối hợp cho mình.

Như vậy phối hợp hai bên có nền tảng pháp lý rõ ràng, chứ không phải ý chí chủ quan của ai.        

Nhu cầu thực tế và thực tiễn

Các hiện tượng xã hội đều có sự đan xen, luôn nằm trong mối liên hệ phổ biến; mọi kết quả ở đâu, lúc nào, của ai đều có nguyên nhân của hoạt động phối hợp. Không kết quả nào từ nguyên nhân đơn nhất. Mặt khác Liên hiệp Hội nằm trong cơ cấu tổ chức của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thì sự phối hợp hoạt động càng đương nhiên hơn. Chỉ có phối hợp hoạt động mới tạo sức mạnh tổng hợp, đúng thực tế khách quan. 

Đã qua, hiện nay và sắp tới Liên hiệp Hội tỉnh luôn tích cực thực hiện nhiệm vụ với tư cách là tổ chức hội thành viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh. Lãnh đạo Thường trực Liên hiệp Hội tham gia vào các tổ chức và một số hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc. Qua sự tham gia này giúp Thường trực Liên hiệp Hội thu được nhiều thông tin và nâng cao chất lượng hoạt động của mình.

Vừa qua, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã chủ động phối hợp mời UBMTTQVN tỉnh Cà Mau tham gia nhiều Hội đồng giám định xã hội các dự án phát triển kinh tế - xã hội đạt kết quả khá tốt, từng bước nâng trách nhiệm trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội

Ngược lại lãnh đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tham gia nhiều hội đồng giám định và phản biện của Liên hiệp Hội; không chỉ góp phần cho hoạt động của Liên hiệp Hội mà còn thu về lượng thông tin hữu ích cho mình. Hai bên sử dụng nhiều cơ hội để trao đổi kinh nghiệm như hội thảo khoa học, sơ, tổng kết từng chuyên đề hay nhiệm vụ thường xuyên... Điều này không làm mờ nhạt tính độc lập của mỗi bên, trái lại còn tăng thêm hiệu quả hoạt động phối hợp và góp phần hoàn thành nhiệm vụ của nhau.

Đã qua, Ủy ban Mặt trận chưa lần nào từ chối lời mời của Liên hiệp Hội và cử người tham gia là cán bộ chủ chốt và đủ tiêu chuẩn theo yêu cầu công việc, có nhiệt tình và trách nhiệm 

Tuy nhiên, nhiều hạn chế cần đánh giá thẳng thắn, trong đó nổi lên là, Kết quả hoạt động phối hợp vừa qua còn rất ít so với năng lực đôi bên. Hàng năm mỗi bên cử vài lượt chuyên gia tham gia công việc cụ thể của nhau, dự vài cuộc hội thảo và họp hội. Yêu cầu xã hội rất lớn vì nhiều chủ trương chính sách, nhiều dự án, đề án mới, khả năng thực thi cụ thể cũng có vấn đề được dư luận quan tâm; cơ quan thẩm quyền cần vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Liên hiệp Hội phản ảnh khách quan thông qua hoạt động tư vấn, giám định, giám sát và phản biện để cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn trong lãnh đạo, điều hành đạt hiệu quả.

Các hạn chế tiếp theo có tính nguyên nhân là, nhận thức chưa sâu về phối hợp hoạt động đôi bên; có người nghĩ rằng mối quan hệ giữa hai tổ chức này không có tính cá biệt nên không nhất thiết xây dựng cơ chế riêng hoặc hiểu Liên hiệp Hội là tổ chức thành viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc nên là mối quan hệ phụ thuộc. Dù chưa phải là nhận thức của số đông nhưng có tác động tiêu cực nhất định. Nhiều người thì hiểu chưa cụ thể nội dung Quyết định số 217/QĐ-TƯ và Quyết định số 14/TTg kể trên nên lúng túng trong tổ chức hoạt động phối hợp.

Chưa xác lập nền tảng cho hoạt động phối hợp căn bản toàn diện như xây dựng chương trình phối hợp, kế hoạch hoạt động thường niên hay định kỳ của mỗi bên cũng hiếm khi đề cập. Phối hợp vừa qua tuy có kết quả nhất định song xuất phát từ nhiệt tình hỗ trợ nhau từng vụ việc cụ thể, và như vậy khác gì “ngẩu hứng”, hốt xổi. Tình trạng này dễ xảy ra rủi ro vì nhiệt tình không ổn định như cơ chế.

Hình thức, phương pháp thực hiện không chỉ thiếu linh hoạt mà còn khô cứng. Các giải pháp, hình thức chủ yếu được nêu trong hai quyết định nói trên chưa thực hiện đầy đủ thì làm sao đòi hỏi sự sáng tạo. Các quy định, hướng dẫn của cấp trên thường là cái khung, là cái chung nhất; muốn đạt hiệu quả tốt trên thực tế đòi hỏi sự vận dụng phù hợp. Có như vậy thì các quy định, hướng dẫn ấy mới có sức sống.

Giải pháp nào cho tình hình trên

Trước hết là nhận thức. Làm cho cán bộ trong hệ thống tổ chức mình nhận thức đúng nhiệm vụ; khẳng định hoạt động phối hợp là yêu cầu khách quan; nội dung quán triệt là hai quyết định nêu trên và các văn bản liên quan. Phải nhận thức thật sâu, thật cụ thể và chuyển thành ý chí, là nhiệm vụ tự giác, chứ không phải tự phát, phải với trách nhiệm cao và nhiệt tâm. Xóa đi mọi gượng ép, như vậy sẽ tạo ra sức bật mới.

Đánh giá tình hình phối hợp đã qua một cách thẳng thắn, chính xác; chẳng những chỉ ra hết những ưu điểm, hạn chế khuyết điểm mà tìm cho được nguyên nhân. Nguyên tắc chung là để ứng xử tốt với bất cứ sự vật, sự việc nào thì trước hết phải hiểu thấu đáo về nó.

Xây dựng chương trình phối hợp hàng năm, có kế hoạch thực hiện từng 6 tháng, từng đợt, vụ việc. Kế hoạch, chương trình là cái nền; khó tránh khỏi diễn biến ngoài dự kiến, vì vậy nên có ý thức điều chỉnh kịp thời khi có đột xuất. Có sơ tổng kết định kỳ, từng đợt, hay vụ việc. Nếu tiên lượng tốt thì ít bất ngờ, bị động và hiệu quả hoạt động tốt hơn.

Nhạy bén phát hiện sớm nhu cầu, vụ việc, chủ động đề xuất với cơ quan thẩm quyền, hoặc quyết định để nhanh chóng tổ chức phối hợp thực hiện. Phải tránh tình trạng trì trệ trong xử lý một số vụ đã qua và như vậy hậu quả là mâu thuẫn đẩy lên gay gắt hơn, có khi làm bản chất sự vụ bị thay đổi. Quan trọng trong tư vấn, giám sát, giám định, phản biện, ngoài đánh giá bản chất vấn đề là đề xuất giải pháp khắc phục có tính khả thi. Cũng tránh “đánh trống bỏ dùi”, hãy theo đến cùng kết quả xử lý.

Linh hoạt để có hình thức tổ chức phù hợp, phương pháp thực hiện sao cho hiệu quả nhất như: lập hội đồng, lập đoàn, điều tra xã hội học, đối thoại, khảo sát thực tế, giám định khoa học... tùy sự vụ cụ thể; mục tiêu đạt tới là chất lượng cao nhất, thời gian ngắn nhất, ít chi phí nhất. Việc nào phối hợp được với danh nghĩa tổ chức đồng chủ trì như các hội thảo khoa học liên quan..., việc nào chỉ phối hợp với tư cách chuyên gia như tư vấn, giám định, giám sát, phản biện thì có phân công bên nào chủ trì, bên nào phối hợp.

Vừa qua phối hợp hoạt động hai bên dù còn ít, nhưng có kinh nghiệm bước đầu là vốn quý cho phát triển mạnh hơn nếu có ý chí tốt./.

Ngọc Linh