1. Mục tiêu chung

Phát triển ngành hàng tôm tỉnh Cà Mau theo hướng hiện đại trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng khoa học từ khâu sản xuất giống, thức ăn, thuốc, chế phẩm sinh học đến kỹ thuật nuôi, bảo quản và chế biến sản phẩm để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, an toàn sinh học, an toàn vệ sinh thực phẩm gắn với bảo vệ môi trường đáp ứng kịp thời các yêu cầu của thị trường một cách bền vững; đầu tư phát triển sản xuất theo chiều sâu, đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm chất lượng cao, phấn đấu giữ vững vị trí đứng đầu cả nước về ngành tôm, đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước; tổ chức lại sản xuất, phát triển các hình thức hợp tác, liên kết chuỗi giá trị cho hầu hết các vùng nuôi, đảm bảo sự phát triển bền vững ngành tôm để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nuôi tôm.

Thu hoạch tôm thương phẩm - Ảnh: Thanh Trà

Tập trung nghiên cứu phát huy tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên, khai thác, sử dụng có hiệu quả mặt đất, mặt nước nuôi tôm trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất giống, sản xuất thức ăn, trong nuôi trồng, bảo quản và chế biến sản phẩm để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất. Phát triển các hình thức hợp tác giữa những người nuôi tôm qui mô nhỏ; xây dựng và phát triển liên kết chuỗi giá trị để phát triển bền vững ngành hàng tôm của tỉnh Cà Mau phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Rà soát, điều chỉnh quy hoạch lại sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa, xây dựng các vùng nuôi tập trung; huy động nhiều nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng về thủy lợi, điện, giao thông để phát triển sản xuất, phòng ngừa dịch bệnh, hạn chế ô nhiễm môi trường, đủ khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trước mắt và lâu dài nhằm giảm thiểu rủi ro trong sản xuất.

Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất tôm giống qui mô lớn, tham gia nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sinh sản tôm giống nhân tạo; tăng cường quản lý chất lượng tôm giống, quản lý chất lượng thức ăn, thuốc, hoá chất phục vụ cho nuôi tôm để giảm thiểu rủi ro, giảm chi phí, tăng lợi nhuận cho người nuôi tôm thật sự được bền vũng.

Phát triển nuôi tôm theo chiều sâu trên cơ sở ứng dụng khoa học kỹ thuật của nhiều lĩnh vực vào nuôi tôm; áp dụng các quy trình kỹ thuật nuôi tiên tiến, thân thiện với môi trường để phát triển nhanh diện tích nuôi tôm siêu thâm canh; thu hút nhiều doanh nghiệp có năng lực về vốn, về công nghệ, về quản lý tham gia đầu tư nuôi tôm siêu thâm canh. Áp dụng quy trình nuôi mới có khả năng nâng cao năng suất, chất lượng và phát triển bền vững, nhất là ứng dụng và nhân rộng quy trình nuôi tôm hữu cơ, đối với diện tích nuôi quảng canh cải tiến (QCCT) để chuyển đổi nhanh diện tích nuôi tôm từ quảng canh truyền thống sang QCCT hai giai đoạn, để khai thác tốt tiềm năng và lợi thế tỉnh Cà Mau về nuôi tôm sú. Xác định nuôi tôm siêu thâm canh và nuôi tôm QCCT hai giai đoạn là khâu đột phá. Trong đó xác định tôm sú là đối tượng chủ lực trong nuôi QCCT hai giai đoạn,  tôm - rừng, tôm - lúa; tôm thẻ chân trắng là đối tượng chủ lực trong nuôi siêu thâm canh, thâm canh trong thời gian tới. Tuy nhiên, tùy thuộc vào nhu cầu của thị trường mà cân đối tỷ lệ sản lượng tôm sú và tôm chân trắng hợp lý và tổ chức sản xuất phù hợp với từng vùng. Đẩy mạnh áp dụng thực hành nuôi trồng thủy sản tốt, nuôi trồng thủy sản có chứng nhận (VietGAP, GlobalGAP...).

Phát triển ngành hành tôm trên cơ sở đáp ứng thật tốt nhu cầu của thị trường; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ. Tái cấu trúc, tháo gỡ khó khăn, nâng cao năng lực sản xuất hàng giá trị gia tăng của các doanh nghiệp chế biến thủy sản; phát huy vai trò của doanh nghiệp chế biến trong liên kết tìm kiếm thị trường và tham gia xây dựng vùng nguyên liệu tập trung hoặc sản xuất theo đơn đặt hàng của công ty, doanh nghiệp thu mua.

Tập trung tổ chức lại sản xuất, phát triển các hình thức hợp tác (THT, HTX, Doanh nghiệp xã hội) của nhiều người nuôi qui mô nhỏ thành vùng sản xuất lớn; phát huy vai trò của các doanh nghiệp chế biến, doanh nghiệp sản xuất giống, sản xuất thức ăn trong liên kết với các vùng nuôi để xây dựng và phát triển liên kết chuỗi giá trị ngành hàng tôm.

2. Giải pháp thực hiện

a) Về tổ chức và quản lý sản xuất

- Phát triển các mô hình hợp tác, liên kết dựa trên tổ chức các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, phân tán thành các Tổ hợp tác, Hợp tác xã, Chi hội nghề nghiệp để tạo ra các vùng sản xuất nguyên liệu lớn, tập trung, làm đầu mối liên kết với các doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, giảm bớt các khâu trung gian.

Tôm nguyên liệu – thế mạnh xuất khẩu của tỉnh Cà Mau - Ảnh: Thanh Trà

- Nghiên cứu, hình thành các doanh nghiệp xã hội trong nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tôm theo vùng sản xuất để nâng cao hiệu quả sản xuất và giá trị sản phẩm.

- Kiểm tra, kiểm soát hệ thống sản xuất và phân phối con giống, thức ăn, thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ ngành tôm trên phạm vi toàn quốc, quan trắc môi trường và kiểm soát chặt tình hình dịch bệnh tại các vùng nuôi tôm tập trung, giám sát chặt chẽ nguồn nước cấp vào, nước thải ra của các cơ sở nuôi và chế biến tôm.

- Vận động, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, biện pháp quản lý tiên tiến, thân thiện với môi trường tại các vùng nuôi tôm tập trung, thay thế dần từ sử dụng hóa chất sang chế phẩm sinh học và vi sinh, không sử dụng thuốc kháng sinh trong sản xuất tôm.

- Thực hiện thí điểm đánh số hoặc cấp mã số nhận diện ao nuôi, vùng nuôi để phục vụ cho công tác quản lý và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

- Xây dựng, điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện hệ thống các quy định về điều kiện sản xuất, các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, quy trình sản xuất, định mức kỹ thuật ở tất cả các khâu trong chuỗi giá trị ngành tôm, ở từng loại hình sản xuất và từng loại sản phẩm tôm.

b) Về khoa học công nghệ và khuyến ngư

- Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới, đặc biệt là các công nghệ mang tính đột phá, phù hợp với từng khâu của chuỗi sản xuất vật tư (giống, thức ăn, thuốc, chế phẩm xử lý môi trường, thiết bị…), nuôi thương phẩm, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm tôm.

- Tổ chức đánh giá, tổng kết các mô hình sản xuất thành công trong thực tiễn để phổ biến, tuyên truyền và nhân rộng (ví dụ: kỹ thuật ương dưỡng giống trước khi thả; thả giống cỡ lớn; kết hợp trồng thực vật thủy sinh, bổ sung thức ăn, sử dụng chế phẩm sinh học trong ao tôm nuôi sinh thái, nuôi hữu cơ v.v...) để nâng cao hiệu quả sản xuất tôm.

- Đa dạng hóa và mở rộng các hình thức tuyên truyền, tập huấn, chuyển giao kỹ thuật cho người sản xuất. Thường xuyên đánh giá hiệu quả hoạt động khuyến ngư để xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật cho phù hợp với điều kiện từng vùng và từng quy trình sản xuất.

- Tập trung nghiên cứu, chọn tạo giống tôm tăng trưởng nhanh, sạch bệnh để chủ động cung cấp cho vùng nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh; giống tôm tăng trưởng nhanh, kháng một số bệnh thường gặp để chủ động cung cấp cho vùng nuôi quảng canh cải tiến, nuôi sinh thái, nuôi hữu cơ; giống tôm càng xanh toàn đực phục vụ nuôi luân canh hoặc xen canh với ruộng lúa.

- Nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ để chủ động sản xuất trong nước như thức ăn, chế phẩm sinh học, thuốc thú y phục vụ ngành tôm, chủ động các biện pháp kiểm soát môi trường và dịch bệnh, xử lý tốt chất thải trong nuôi tôm.

- Tăng cường chuyển giao, nâng cấp và áp dụng công nghệ tiên tiến trong chế biến tôm để nâng cao tỷ trọng hàng giá trị gia tăng, đảm bảo an toàn thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu của các thị trường nhập khẩu.

- Ứng dụng công nghệ thông tin, phương pháp quản trị tiên tiến trên thế giới vào quản lý ngành tôm, áp dụng công nghệ tin học, viễn thám để quản lý môi trường, dịch bệnh và các khâu trong chuỗi sản xuất ở các vùng nuôi tập trung.

c) Về phát triển thị trường

- Tăng cường nghiên cứu thông tin, xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu về thị trường trong nước và trên thế giới, về thị hiếu tiêu dùng, chủng loại sản phẩm, dung lượng thị trường, mức độ cạnh tranh với các nước cùng sản xuất và xuất khẩu tôm để làm cơ sở xây dựng kế hoạch phát triển thị trường tiêu thụ.

- Xây dựng và phát triển các trung tâm giao dịch (sàn giao dịch, chợ bán đấu giá, công ty đầu mối thị trường) và các trung tâm ứng dụng công nghệ cao để giới thiệu, cung ứng vật tư (bao gồm cả tài chính, công nghệ) và tiêu thụ sản phẩm tôm nhằm minh bạch hóa thị trường; tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp có thể tiếp thị trực tiếp đến các hệ thống phân phối, bán lẻ và người tiêu dùng.

- Thúc đẩy đàm phán để xúc tiến thương mại, củng cố các thị trường xuất khẩu tôm truyền thống, phối hợp tháo gỡ kịp thời các rào cản để tăng xuất khẩu các sản phẩm tôm của Việt Nam nói chung và của tỉnh Cà Mau nói riêng vào các thị trường tiềm năng trong khu vực và trên thế giới. Chú trọng phát triển xuất khẩu chính ngạch sang thị trường các nước có nhu cầu. Đồng thời tăng cường hoạt động kiểm tra, kiểm soát và kịp thời xử lý các hành vi vi phạm hoạt động thu mua tôm của thương nhân tại các địa phương và vận chuyển qua đường tiểu ngạch.

- Đẩy mạnh hợp tác công tư để quảng bá sản phẩm, xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm tôm của tỉnh ở các thị trường trọng điểm.

- Tuyên truyền, phổ biến các quy định trong các hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới, cũng như các quy định có liên quan tại thị trường nhập khẩu cho doanh nghiệp, người sản xuất để nâng cao năng lực phát triển thị trường, xây dựng chiến lược sản xuất, kinh doanh phù hợp.

- Hỗ trợ, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các doanh nghiệp, nhà sản xuất tôm trong các trường hợp cạnh tranh, kiện chống bán phá giá.

d) Về thích ứng với biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường

- Lồng ghép các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng vào các chương trình, đề án, dự án phát triển nuôi tôm tập trung để có những phương án, giải pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả.

- Hoàn thiện hệ thống tiếp nhận, truyền dẫn thông tin, cảnh báo tác động của biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường đến các tổ chức, cá nhân tham gia trong chuỗi giá trị ngành tôm nhanh chóng, chính xác và kịp thời để có các biện pháp phòng ngừa, khắc phục hiệu quả.

- Nghiên cứu xây dựng các mô hình sản xuất tôm thích ứng với biến đổi khí hậu phù hợp với từng vùng sinh thái; đồng thời tổ chức đánh giá, tổng kết các mô hình sản xuất hiệu quả thích ứng với biến đổi khí hậu để tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến rộng rãi cho người nuôi tôm.

- Tăng cường công tác giám sát môi trường và áp dụng công nghệ sản xuất xanh vào toàn chuỗi sản xuất tôm.

- Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành để quản lý hiệu quả việc sử dụng nguồn nước chung cho hoạt động của các ngành kinh tế, không gây ô nhiễm môi trường, hạn chế xung đột và tác động tiêu cực trong quá trình sử dụng chung nguồn nước.

đ) Về cơ chế chính sách

- Chính sách về khoa học công nghệ:

+ Khuyến khích các hoạt động nghiên cứu, nhập nội, chuyển giao áp dụng công nghệ cao, tiên tiến, thân thiện với môi trường vào sản xuất ở các khâu của chuỗi giá trị tôm;

+ Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, hợp tác với các cơ quan nghiên cứu công lập để tận dụng cơ sở vật chất, nguồn lực nhằm đẩy nhanh tiến độ trong nghiên cứu công nghệ phát triển ngành tôm (đặc biệt trong lĩnh vực chọn tạo giống tôm, sản xuất thức ăn nuôi tôm, thiết bị phục vụ nuôi tôm công nghệ cao).

- Chính sách giao, cho thuê sử dụng đất, mặt nước để nuôi tôm:

+ Xây dựng và thực hiện chính sách tích tụ ruộng đất, dồn điền đổi thửa tạo vùng sản xuất lớn, tập trung nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm tôm;

+ Điều chỉnh hạn điền phù hợp đối với từng vùng, đối tượng và công nghệ để doanh nghiệp, người dân yên tâm đầu tư vào sản xuất.

- Chính sách về tín dụng:

+ Tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình, chính sách tín dụng hiện hành đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, trong đó có ngành tôm;

+ Tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp, người dân tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.

- Chính sách về bảo hiểm:

+ Xây dựng cơ chế bảo hiểm ở tất cả các khâu trong chuỗi sản xuất tôm, đặc biệt là khâu sản xuất giống và nuôi tôm thương phẩm, có chính sách hỗ trợ bảo hiểm đối với các hộ nuôi nhỏ lẻ, các hợp tác xã.

+ Khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia đầu tư vào bảo hiểm ngành tôm.

e) Về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ ngành tôm

- Củng cố, nâng cấp, mở rộng hệ thống cơ sở đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển ngành tôm. Khuyến khích các cơ sở nghiên cứu, đào tạo gắn kết với các doanh nghiệp, trang trại và cơ sở sản xuất tôm để đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất tôm.

- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao phục vụ công tác nghiên cứu và quản lý ngành tôm, xã hội hóa việc đào tạo lực lượng lao động trực tiếp trong toàn chuỗi sản xuất tôm (gắn với doanh nghiệp), hướng tới đào tạo có địa chỉ, theo nhu cầu thị trường.

- Tổ chức tập huấn, đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn trong sản xuất giống, ương tôm giống, nuôi tôm thương phẩm để người sản xuất, doanh nghiệp tiếp cận các tiến bộ kỹ thuật mới./.

Ks: Trần Minh Chòi - Trung tâm Khuyến nông Cà Mau