Như vậy, vấn đề môi trường càng bức thiết trong đời sống xã hội, không chỉ ở nước ta mà cả thế giới. Sự phát triển bao giờ cũng đi kèm sự tác động tiêu cực của môi trường, nó đe dọa cuộc sống không từ một ai. Không thể không phát triển xã hội, vì vậy càng có ý thức và hành động thiết thực bảo vệ môi trường. Ai không tham gia bảo vệ môi trường, là trước hết không trân trọng cuộc sống của mình, còn làm xấu môi trường sống của xã hội.

Nhiều định nghĩa về môi trường, nhưng có cùng các yếu tố cơ bản. Ta có thể hiểu theo khái quát của một học giả: “Môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống hoặc một cá thể, sự vật nào đó. Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó…”. Nội dung bài dưới đây không thể đề cập hết các vấn đề, mà chỉ muốn nói lên vài suy nghĩ của mình về một số lĩnh vực môi trường tự nhiên và các yếu tố khác tác động trực tiếp được dư luận tại tỉnh Cà Mau hết sức quan tâm.

Dư luận xã hội thừa nhận những năm qua tỉnh rất cố gắng đạt được nhiều kết quả về môi trường.

Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các ngành, các cấp cố gắng tổ chức thực hiện các quy định của Nhà nước về môi trường. Đồng thời cụ thể hóa thêm một số văn bản của Trung ương theo thẩm quyền như: Quyết định số 754/QĐ-UBND ngày 24/4/2017, xây dựng thí điểm mô hình Tổ tự quản về bảo vệ môi trường. Năm 2019 trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành 05 nghị quyết; Ủy ban nhân dân ban hành 03 quyết định như:                                              

Ảnh tư liệu

Quyết định số 36/2019/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 ban hành Quy chế thu thập, quản lý, cập nhật dữ liệu về tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Các cấp, các ngành từ tỉnh đến xã, phường, thị trấn hàng năm, trong các chương trình, kế hoạch về phát triển kinh tế, xã hội đều đề cập nội dung về môi trường và sơ kết đánh giá kết quả thực hiện nội dung này. Đã giải quyết được các vấn đề nóng phát sinh mà thường là: ô nhiễm môi trường, phê duyệt các báo cáo tác động môi trường của các dự án, kiểm tra triển khai thực hiện môi trường tại các dự án, các vi phạm trong sử dụng đất. Xây dựng một số phong trào như: Khu dân cư xanh, sạch, đẹp; giải tỏa các chướng ngại trên sông, khơi thông dòng chảy; vớt rác trên sông; gắn các tiêu chí môi trường vào Chương trình xây dựng xã nông thôn mới; ấp, khóm văn hóa, phường văn minh…

Vận động nhân dân không dùng chất bị cấm trong sản xuất, thực phẩm, sinh hoạt, khuyến khích sản xuất theo phương pháp hữu cơ, cả trong chăn nuôi và trồng trọt. Hình thành các cánh đồng lúa sạch như kết hợp vụ lúa, vụ tôm, cánh đồng lớn; các cơ sở chăn nuôi gia xúc, gia cầm áp dụng kỹ thuật hữu cơ. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm; thước đo này có thể nhìn vào các siêu thị ngày càng đông khách hàng. Đổi mới nếp quen của người tiêu dùng tác động mạnh đến người sản xuất, giới tư thương và các tổ chức kinh doanh khác.

Quan tâm việc xử lý chất thải ở các khu công nghiệp, khu dân cư. Hầu hết các nhà máy đều có cơ sở xử lý nước thải, xử lý mùi hôi, nhất là nhà máy chế biến đầu vỏ tôm; tổ chức thu gom rác ở các khu đô thị, các đường chính trong nội ô luôn sạch sẽ; xây dựng bãi rác; tháo gỡ nhiều khó khăn cho nhà máy xử lý rác tập trung; khuyến khích phát triển một số cơ sở xử lý rác nhỏ lẻ theo yêu cầu đặc thù. Các cơ sở y tế trong hệ thống nhà nước thực hiện được các quy định về xử lý chất thải y tế; cơ bản xóa được cầu tiêu trên sông; hạn chế xây mới và vi dời nhà ở ven sông, ven biển; từng bước chỉnh trang khu dân cư ven sông tại thành phố và các thị trấn…

Thành công trên chỉ là điển hình. Tuy nhiên, dư luận còn một số băn khoăn. Xin nêu vài sự vụ sau.

Ô nhiễm dòng sông và các hồ nước trong nội ô. Các sông trong nội ô thành phố và các thị trấn rất bẩn. Dòng sông trong thành phố Cà Mau suốt năm đen ngòm, có người gọi là dòng sông “xanh”. Mùi hôi tỏa ra xung quanh rất khó chịu; rác bập bềnh trên nhiều tuyến sông như “hoa mặt nước”. Các thị trấn đều ô nhiễm, nhất là sông Ông Đốc, ngoài số rác theo dòng chảy ra biển, số đọng lại ken bít ven hai bờ sông. Nước sinh hoạt trong dân không qua xử lý và một số nhà máy thải ra sông và hồ điều hòa trong nội ô là nguồn ô nhiễm đáng ngại. Các hồ trong nội ô, nhất là hồ Vân Thủy tại phường 5 nhiều lần trong năm vừa đen, vừa hôi. Hồ này còn được mệnh danh là “Hồ Lưu luyến”, vì khách ra về vẫn mang máng cái mùi ngoài ý muốn trong cảm giác hàng giờ. Tại các khu công nghiệp, nặng nhất là khu Hòa Trung do các nhà máy chế biến thủy sản; dù nhà máy nào cũng có hồ xử lý, nhưng chỉ vận hành đối phó với cơ quan quản lý, nên ô nhiễm ngay tại chỗ và cả các vùng xung quanh.

Ô nhiễm trong nuôi trồng thủy sản. Tỉnh Cà Mau có khoảng 250.000ha nuôi tôm phải sên đầm hàng năm, thời gian sên vét kéo dài hơn 30 ngày, nhưng thật sự diễn ra hơn 60 ngày vì thời gian bắt đầu và kết thúc khác nhau mỗi vùng, song lại thông lưu giữa các vùng nên cũng gây ô nhiễm cho nhau. Những ngày sên vét cao điểm gây ô nhiễm, làm các loài thủy sản trong tự nhiên trên các dòng sông đều chết theo. Mặt khác gần 10.000ha nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh thải ra nguồn nước rất độc hại. Ý thức bảo vệ môi trường trong sản xuất của một số người dân chưa cao, nên các quy định và khuyến cáo của nhà nước và cơ quan chuyên môn chưa được thực hiện tốt.

Xử lý rác còn nhiều khó khăn. Các nhà và chợ ven sông, xem dòng sông như bãi rác, nên công khai hay âm thầm bất chấp các qui định; người đang đi sẵn sàng vứt rác ra đường. Nhà máy xử lý rác tập trung của tỉnh hoạt động còn hạn chế nhất định như thiếu liên tục, công nghệ lạc hậu, giá xử lý rác còn cao so với các tỉnh. Một số bãi rác trung chuyển mang tính tình thế; nhiều thị trấn xử lý rác như “chống càn”. Quy hoạch quỹ đất cho các bãi rác ở các địa phương rất khó khăn, nhất là sự đồng thuận của nhân dân, vì ảnh hưởng từ không khí và mùi hôi.

Nhiều lĩnh vực khác cũng đáng lo. Nhiều vùng, người dân lén đưa nước mặn vào vùng ngọt nuôi tôm, làm đảo lộn hệ sinh thái, chẳng những xảy ra tranh chấp trong sản xuất mà còn ảnh hưởng tiêu cực trong quan hệ xã hội. Bao bì, phế liệu vật tư sản xuất xử lý không đúng cách. Khai thác nước ngầm vẫn còn tùy tiện, dù đang xác lập nền nếp quản lý. Phát triển cây xanh trong các đô thị vừa ít, vừa thiếu hợp lý. Có nơi năm nay trồng, sau vài năm xóa. Phát triển cây xanh một số tuyến không phối hợp với các công trình khác như đường điện, vỉa hè, mương cống… tạo ra sự “hỗn độn”. Một số dự án khu đô thị mới thực hiện chậm, thậm chí rất chậm. Phần chưa thực hiện này chất chứa lượng ô nhiễm không nhỏ; chưa xây dựng được văn hóa xóa rác thải nhựa…

Hạn chế có do khách quan. Song nhiều người muốn lưu ý về nguyên nhân chủ quan.

Các quy định về quản lý của nhà nước. Luật, nghị định, thông tư… nói chung các văn bản về mặt pháp lý, cơ bản đáp ứng được yêu cầu bảo vệ mội trường. Vấn đề quan trọng là các nội dung đó đã đi đến đâu ? Không ít người thấy một số văn bản còn nằm trên bàn giấy, một số được phổ biến đến cán bộ quản lý, một số đến với người dân nhưng chỉ như “ghé thăm” và chuyến “thăm không trọn vẹn”. Nhìn chung các qui định của Nhà nước về môi trường được triển khai khá “sơ bộ”; đi vào cuộc sống ở mức thấp. Ai cũng biết nhận thức là bước quan trọng đầu tiên của mọi hoạt động. Việc này là phải thay đổi nếp quen, đường mòn nên nhận thức càng thông suốt hơn. Nếu bước này bị “cùn” tất nhiên các sản phẩm kế tiếp sẽ “cùn” theo.

Về phân cấp, phân quyền và tổ chức thực hiện có cố gắng, xét về mặt lý thuyết cơ bản đạt. Nhưng cái quan trọng có tính quyết định tiếp theo là trách nhiệm của tổ chức, cá nhân được phân quyền chưa đạt. Thường thấy các báo cáo của một ít cơ quan độ chính xác không cao, thiếu thật, ít phản ảnh đúng bản chất sự việc; cũng thường vịn vào lý do thiếu chính đáng nào đó đổ lỗi khách quan hoặc bác bỏ sai sót. Thực tế có cán bộ và gia đình khi sên vét ao đầm nuôi tôm thải nước bị ô nhiễm ra sông, rạch, hoặc có hành vi vi phạm khác về môi trường. Mình không vi phạm mới vận động hay xử lý người khác. Rất tiếc những cán bộ như vậy là tấm gương “đen” thì có thể nhuộm đen người khác.  

Công tác vận động tuyên truyền chưa chuyển hóa nhận thức mạnh mẻ trong xã hội. Vì vậy có phong trào “sinh” ra không lâu bị “tắt thở”; có việc làm mẫu điển hình nhưng “cô độc” không sức lan tỏa; có việc triển khai phổ biến nhưng không thực hiện được. Có thể công tác tuyên truyền qua các góc nhìn, về: nội dung có sâu sát nhu cầu bức xúc từng lúc, từng nơi chưa hay chung chung, cào bằng; có quyết liệt không, hình thức phong phú sống động không, phối hợp giữa các hình thức thế nào…

Có việc tuyên truyền suông hiệu quả khó đạt mà phải kết hợp giải quyết khó khăn cụ thể. Ví dụ di dời nhà dân ven biển, ven sông thì phải tạo ra nơi định cư mới hợp lý, tiện lợi trong sản xuất làm ăn bằng và hơn nơi ở cũ; xử lý chất thải thì có cơ sở, nơi thu gom; không vi phạm vùng ngọt hóa thì tạo điều kiện sao phát triển sản xuất đạt hiệu quả tương ứng với vùng hệ sinh thái mặn. Thực hiện mục tiêu/nhiệm vụ phải kiên trì quyết liệt, đồng bộ, hợp lý mới là yếu tố thắng lợi.

Một số vấn đề khác cũng có khả năng chi phối như có dự án khu dân cư, khu đô thị mới triển khai chậm, thậm chí “quăng neo” tại chỗ. Hạ tầng môi trường thấp như cơ sở kỹ thuật xử lý chất thải thiếu, hoặc không tiện lợi. Có nhà máy sử dụng thiết bị công nghệ lạc hậu. Chưa tập trung các nhà máy vào khu công nghiệp, nhất là nhà máy chế biến thủy sản nên vừa khó kiểm soát, vừa không thể hỗ trợ điều kiện để xử lý chung giảm chi phí…

Công tác kiểm tra, thanh tra môi trường chưa chặt chẽ; các vụ được phát hiện xử lý thấp hơn nhiều so với dư luận đặt ra; mức xử phạt cũng chưa mạnh tay. Có người cho rằng do quy định của nhà nước về mức xử phạt và tránh nặng nề cho nhà đầu tư… Các lý giải đó không sai nhưng chưa sâu, chưa sát. Phải chăng xử lý của ta vừa qua hầu như ở mức tối thiểu trong khung qui định. Việc tránh nặng nề cho doanh nghiệp đâu phải thanh, kiểm tra nhiều lần hay ít lần, trực tiếp hay gián tiếp. Nếu ta có trách nhiệm, nhiệt tình cao, trong sáng và khéo léo thì thiếu gì giải pháp.  

Từ các nhận định trên nhiều người mong sắp tới nên.

Về kế hoạch thực hiện. Các cấp chính quyền, các ngành chức năng đã có quy hoạch và kế hoạch thực hiện nhiệm vụ môi trường, song sự vật luôn vận động, vì vậy bối cảnh luôn biến đổi, cần rà soát lại nội dung nào không còn phù hợp thì sớm điều chỉnh, bổ sung. Nhiệm vụ cơ bản mỗi ngành và địa phương giống nhau nhưng điều kiện cụ thể khác nhau, nên kế hoạch không phải là bản sao của nhau. Kế hoạch phải sát nhu cầu, nhất là các vấn đề nóng ở ngành và địa phương mình. Mục tiêu, nội dung, giải pháp có tính khả thi cao. Nên ấn định mốc thời gian cho từng nhiệm vụ, không chung chung. Xác định vùng trọng điểm, mũi đột phá để tác động diện. Kế hoạch càng cụ thể, càng chặt chẽ thì cơ hội thành công càng lớn.

Chuyển biến tốt nhận thức, xem bảo vệ môi trường là lợi ích bản thân và cộng đồng; chẳng những trách nhiệm pháp lý mà còn là hành vi đạo đức xã hội của mỗi người, tập thể. Mọi người phải hiểu được quy định của nhà nước, trước hết là các vấn đề gắn với nhu cầu bức thiết của họ và họ biết phải làm gì, cái gì không được làm và không nên làm. Phối hợp nhiều hình thức truyên truyền phát động sao cho hấp dẫn, đi vào và đọng lại trong tình cảm con người và chuyển hóa thành hoạt động thiết thực. Vừa qua, một số nơi xây dựng các phong trào thi đua, tuyên dương gương tốt; kết hợp tuyên truyền bề rộng, chiều sâu. Cần kiên trì hơn, phong phú hơn. Cán bộ phải luôn đi đầu trong các hoạt động môi trường. Hãy làm gì với câu “Đảng viên đi trước/ Làng nước đi sau”.

Một số vấn đề khác. Tổ chức thực hiện phải hết sức chặt chẽ, từ kế hoạch đến hành động. Là hoạt động với mục tiêu xây dựng nếp sống văn minh, thay cho nếp sống lạc hậu từ ngày xưa nên không dễ. Tôi nhớ có chuyến công tác nước ngoài ít ngày; mấy ngày đầu rất khó chịu nếp sinh hoạt của họ, rồi dần quen. Khi về nước, lỡ vứt miếng rác ra đường tự thấy xấu hổ, nhưng ngày lại ngày, tôi hòa nhập với mọi người - có rác cứ vứt, không nhất thiết trên bờ hay dưới sông. Các nước phát triển, hộ dân phải tự phân từng loại rác đưa vào các thùng rác tương ứng; có hộ phải tự mang đến thùng rác cách nhà 3-4km; nếu là rác phế liệu như xác máy giặt, tủ lạnh… phải thuê công ty môi trường xử lý. Ở nước ta dễ quá.

Qua câu chuyện này, lời tâm sự của tôi là chống ô nhiễm môi trường phải làm quyết liệt, liên tục, bền bỉ, thành phong trào quần chúng; nếu không thì “xác chết” ngày hôm qua, hôm nay sống lại. Thực hiện mục tiêu nào thì có kế hoạch cụ thể mục tiêu đó, phải quyết tâm cao, thường xuyên sơ kết, kiểm tra đánh giá sát thực tế diễn biến. Thanh tra xử lý kịp thời vi phạm; đồng thời cảnh báo, khuyến cáo ngăn ngừa vi phạm. Phải huy động nguồn lực xã hội; người dân có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tự giác tham gia tích cực. Bác Hồ thường nhắc chúng ta “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Mượn mấy câu trong bài thơ Môi trường của bác Nguyễn Ngọc Nguyệt thay lòng tôi làm lời kết:… “Già trẻ, trai gái một lòng/ Vì môi trường sạch, cộng đồng làm ngay/ Chúng ta hãy nắm chặt tay/ Môi trường xanh, sạch tháng ngày chăm lo/ Ai ơi xin nhớ kỹ cho/ Môi trường xanh, sạch còn chờ đợi ai”./.

PVĐ