Một số kết quả năm 2019

Các khó khăn chủ yếu. Khó khăn của năm 2018 còn đó, lại chồng thêm khó khăn mới của năm 2019 ảnh hưởng tiêu cực nặng nề đến đời sống và sản xuất thủy sản như: thời tiết, khí hậu cực đoan; tình hình sạt lở ven biển, ven sông hết sức nguy cấp; nước biển dâng nhiều bờ bao, đê bao bị vỡ, bị tràn; theo ước tính của các cơ quan chức năng thì thiệt hại gần 100 tỉ đồng. Ngoài ảnh hưởng thiên tai thì thị trường diễn biến không thuận lợi; nhìn chung giá cả đầu vào của sản xuất tăng cao; giá cả đầu ra sản phẩm tăng chậm… Dù khó khăn gay gắt, Hội Thủy sản và bà con nông dân vẫn kiên định ý chí và khéo léo vượt qua; đã triển khai nhiều nội dung, giải pháp hiệu quả.

Củng cố và xây dựng tổ chức. Quan tâm trước hết của Hội là xây dựng tổ chức mạnh làm cơ sở vững chắc cho thực hiện nhiệm vụ. Tính đến nay Hội có 579 tổ chức. Trong đó có 9/9 Huyện hội và Thành hội (Huyện hội); 90 hội ở xã, phường và thị trấn; 479 chi hội; tổng số 11.331 hội viên. Có 616 tổ hợp tác, 88 hợp tác xã, 10 tổ hùn vốn hỗ trợ sản xuất. Trên 80% cấp hội xã, phường, thị trấn tổ chức xong đại hội.

Đại hội là điều kiện củng cố phát triển chất lượng tổ chức tốt hơn; Huyện hội và Tỉnh hội cũng có thay đổi một số nhân sự theo hướng tích cực. Tỉnh hội mở hai lớp tập huấn về hoạt động hội cho cán bộ lãnh đạo trong hệ thống có 120 học viên và tổ chức các cuộc tọa đàm trao đổi kinh nghiệm về quản lý hội. Có thể nói trong 20 thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh thì Hội Thủy sản có cơ cấu tổ chức hoàn thiện và số lượng hội viên đông nhất.

Chuyển giao ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất xem là nhiệm vụ thường trực. Hội tuyên truyền các chủ trương của nhà nước về chuyển nghề cá nhân dân sang nghề cá có trách nhiệm như: không vi phạm vùng biển nước ngoài, gắn khai thác với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, không sử dụng thuốc kháng sinh cấm, thực hiện truy xuất nguồn gốc hàng hóa… Đến nay tổ chức gần 100 cuộc tuyên truyền với hơn 6.000 lượt người tham dự; gắn thiết bị giám sát hành trình trên 1.100 tàu.

Tuy nhiên sức lan tỏa chưa rộng khắp; trong năm có 7 tàu vi phạm vùng biển nước ngoài bị bắt với 56 thuyền viên. Dù số vụ bị bắt giảm hơn năm 2018 song vẫn còn cao; các vi phạm khác cũng còn tái diễn.

Phối hợp với các ngành các cấp liên quan tổ chức 9 cuộc hội thảo nhân rộng mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh tuần hoàn kín; mô hình sản xuất tôm sú giống Moana theo Đề án tái cơ cấu ngành hàng tôm năm 2019.

Phối hợp tổ chức tập huấn và hội thảo chuyển giao kỹ thuật nhân rộng mô hình sản xuất mới hiệu quả được 239 cuộc, có 12.349 lượt người tham dự. Nổi bật là việc thực hiện chỉ tiêu nuôi tôm siêu thâm canh đạt 2.495 ha (chỉ tiêu 2.300 ha), năng suất bình quân gần 30/tấn/ha/vụ. Nhiều loại hình khác cũng mở rộng và hiệu quả hơn như: Nuôi tôm 2, 3 giai đoạn; nuôi tôm càng xanh kết hợp với trồng lúa ở hai huyện Thới Bình và U Minh đạt trên 17.000 ha, áp dụng các giải pháp cải tạo ao, đầm tiêu chuẩn và thu hoạch bằng lưới kéo, đạt năng suất và chất lượng sản phẩm tốt.

Các đối tượng và loại hình khác cũng phát triển như: Nuôi sò huyết, hàu lồng, tôm tít, cua... Nhìn chung nhiều nông dân đã tiếp thu kỹ thuật, đúc kết nhiều kinh nghiệm ứng dụng trên đồng ruộng của mình và thông qua các hình thức truyền nghề tạo thành phong trào tốt trong ứng dụng khoa học kỹ thuật.

Để phục vụ tốt cho sản xuất thì khâu cung ứng giống hết sức quan trọng. Hội Thủy sản đã phối hợp với các ngành chức năng vừa tác động cơ quan thẩm quyền có cơ chế khuyến khích phát triển giống như tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở sản xuất giống, xây dựng các mô hình sản xuất giống và chuyển giao kỹ thuật cho cơ sở, hỗ trợ giới thiệu đến nông dân những cơ sở giống có chất lượng tốt. Tỉnh ưu tiên tạo nguồn giống tại chỗ với tinh thần là nhu cầu sản xuất con gì thì có giống đó; tuy nhiên nhu cầu phải đủ lớn.

Dù cố gắng nguồn giống tại chỗ vẫn khó cung cấp đủ nên khuyến khích cơ sở giống ngoài tỉnh có chất lượng tốt bổ sung cho nguồn trong tỉnh. Để tiện lợi cho người nuôi tỉnh đã hình thành mạng lưới rộng khắp cung cấp giống tận ruộng nuôi nếu chủ hộ cần.

Hội Thủy sản cùng Chi Cục thú y và các ngành, các cấp liên quan hướng dẫn các cơ sở cung cấp vật tư thủy sản về các quy định của nhà nước, tiêu chuẩn chủng loại, giá cả hợp lý đồng thời kiểm tra phát hiện đề nghị cơ quan thẩm quyền xử lý vi phạm. Nhìn chung việc cung cấp vật tư thủy sản đáp ứng yêu cầu và có nền nếp hơn trước.

Hội Thủy sản cũng cố gắng thực hiện tốt nhiều nhiệm vụ khác. Thông qua việc thành lập các chi hội, hướng dẫn hoạt động cho họ thực hiện tổ chức lại sản xuất theo chỉ đạo của tỉnh; khuyến cáo xây dựng và bảo vệ nhãn hiệu sản phẩm, quảng bá sản phẩm; phối hợp xây dựng, phát triển các tổ đội sản xuất và bảo vệ an ninh trật tự trên biển; khuyến khích phát triển một số dịch vụ cho khai thác trên biển.

Phối hợp với Công ty Sóng Biển Đông thành phố Hồ Chí Minh triển khai mô hình sử dụng điện thoại thông minh truy xuất nguồn gốc sản phẩm hàng hóa của hợp tác xã 7B xã Hiệp Tùng và xã Lâm Hải huyện Năm Căn. Giải pháp này thích hợp với yêu cầu phát triển và có khả năng nhân rộng.

Cùng các tổ chức liên quan và thiện nguyện tổ chức Mit tinh kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống nghề cá (1/4/1959 – 1/4/2019), kết hợp thả trên 3 triệu con giống gồm tôm, cá, cua vừa tác động tích cực môi trường, vừa tái tạo nguồn lợi thủy sản tại cửa biển Rạch Gốc, huyện Ngọc Hiển. Lễ thả giống cũng được thực hiện tại Khu Du lịch Quốc gia Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển trên 650.000 con giống thủy sản và hàng trăm chim, cò.

Hoạt động của Hội Thủy sản đã góp phần tích cực với ngành nông nghiệp đạt các chỉ tiêu nhiệm vụ sau

Tổng sản lượng thủy sản đạt trên 568.000 tấn, tăng 3,16% so cùng kỳ và 101,43% so kế hoạch. Riêng tôm trên 200.000 tấn, tăng 5,15% cùng kỳ. Trong đó:  

- Sản lượng khai thác thủy sản đạt 228.500 tấn, tăng 6,32% so cùng kỳ và 114,25% so kế hoạch; trong này sản lượng tôm ước khoảng 10.000 tấn;

- Sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 339.500 tấn, tăng 1,14% so cùng kỳ; trong này tôm nuôi đạt 190.000 tấn, tăng 6,3% so cùng kỳ và 96,94% so kế hoạch.

Tuy nhiên còn nhiều hạn chế, trong đó chủ yếu là. Xây dựng nghề cá có trách nhiệm còn chậm, vi phạm còn xảy ra trên nhiều lĩnh vực, lo ngại là một số qui định của EU chưa thực hiện tốt nên chưa góp phần tích cực gỡ thẻ vàng; nhiều vùng nuôi thủy sản thiếu ổn định, tính rủi ro còn cao, dịch bệnh có khi diễn ra trên diện rộng; chưa tìm được giải pháp kỹ thuật ăn chắc trong nuôi trồng và khai thác; chất lượng giống chưa thật tốt; kiểm soát việc mua bán vật tư kỹ thuật chưa thật chặt chẽ; liên kết trong sản xuất chỉ nằm ở mô hình nên chưa tạo được tổng lực, vì vậy người sản xuất luôn luôn là bên yếu thế trong chuỗi sản xuất… Đời sống người dân ở một số vùng nuôi thủy sản và hộ khai thác đánh bắt trên biển chậm cải thiện, thậm chí rất khó khăn.    

Khái quát tình hình chung năm qua

- Tỉnh ủy, UBND tỉnh luôn quan tâm và tạo điều kiện cho các hội hoạt động; đặc biệt là Hội Thủy sản được hưởng chế độ đặc thù sớm nhất cả nước nên ngân sách tham gia một phần kinh phí cho hoạt động của hội đến cơ sở. 

- Hội Thủy sản biết lấy mục tiêu của ngành nông nghiệp làm nhiệm vụ của mình nên thuận lợi trong công tác phối hợp với các cơ quan chuyên ngành hoặc huy động các chuyên gia thủy sản.

- Điều hành hoạt động của Hội có nề nếp, sát thực tế như: hàng năm Hội tổng kết và ra kế hoạch năm; hàng quí Ban Thường vụ có sơ kết và kế hoạch quí; thường xuyên kiểm tra triển khai hoạt động của các cấp hội; theo dõi diễn biến chung và từng vùng để có giải pháp chỉ đạo kịp thời. 

- Xác định được khâu và điểm đột phá phù hợp từng thời điểm; biết kết hợp giữa điểm và diện, vì vậy mà các mô hình sản xuất tiên tiến được nhân rộng. Phương châm, phương pháp hoạt động của hội là lấy tuyên truyền, vận động thuyết phục trên cơ sở hiệu quả kinh tế - xã hội.

- Xây dựng được hệ thống tổ chức và luôn luôn tăng cường năng lực và nhân sự để chất lượng hoạt động ở các tổ chức hội ngày càng tốt. Tỉnh hội chỉ đạo là quan tâm chất lượng hơn số lượng; quan điểm này xuyên suốt từ tỉnh đến các chi hội, từ tổ chức cán bộ đến các hoạt động khác.

- Thực hiện tốt công tác phối hợp với các ngành, các cấp liên quan và các tổ chức trong hệ thống nhằm tạo nguồn lực mạnh thực hiện nhiệm vụ. Trước hết là phối hợp với các tổ chức thuộc hệ thống nông nghiệp; các tổ chức và chuyên gia nghiên cứu khoa học; các nhà cung cấp vật tư, giống và các doạnh nghiệp tiêu thụ sản phẩm. 

- Hạn chế còn nhiều, trong đó nổi lên. Tỉnh hội nhận ra và đang có giải pháp tích cực để khắc phục như: Ứng phó với thiên tai, công tác tuyên truyền chưa đủ mạnh để khăc phục tính trì trệ bảo thủ một bộ phận người sản xuất, tổ chức liên kết chuỗi sản xuất còn yếu, chưa tìm được kỹ thuật mới để giảm thiểu rủi ro trong nuôi trồng thủy sản như mong muốn; một số tổ chức chi hội chưa phải là điểm sáng để lan tỏa.

Chỉ tiêu thực hiện năm 2020

Hội Thủy sản tích cực góp phần thực hiện chỉ tiêu của ngành nông nghiệp theo Quyết định số 2159/QĐ-UBND ngày 6/12/2019 của UBND tỉnh như sau.

- Tổng sản lượng thủy sản đạt 600.000 tấn. Trong đó có 210.000 tấn tôm:

+ Sản lượng khai thác 24.000 tấn. Có 10.000 tấn tôm;

+ Sản lượng nuôi trồng 360.000 tấn. Có 200.000 tấn tôm

- Diện tích nuôi tôm công nghiệp 8.720 ha. Có 2.800 ha nuôi tôm siêu thâm canh.

- Diện tích nuôi tôm quảng canh cải tiến 150.000 ha.

Một số giải pháp chủ yếu để thực hiện các chỉ tiêu trên

- Làm tốt công tác tổ chức, cán bộ xây dựng hệ thống hội. Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở hội; tổ chức đại hội bầu Ban Chấp hành 4 huyện đã hết nhiệm kỳ và tổ chức đại hội cấp tỉnh vào cuối năm 2020. Phát triển 1.000 hội viên mới.

- Công tác tập huấn, xây dựng các mô hình tiên tiến. Cùng các cơ quan liên quan nâng cao hiệu quả tập huấn kỹ thuật như: sát yêu cầu thực tế, đúng đối tượng, thuyết trình viên có kỹ năng tốt, sử dụng nhiều hình thức tập huấn để người sản xuất tiếp thu tốt nhất. Hỗ trợ, nhất là kỹ thuật để hoàn thiện các mô hình tự phát trong dân phù hợp với yêu cầu phát triển, đồng thời phối hợp với các tổ chức và đơn vị liên quan xây dựng mô hình mới. Mô hình phải có sức thuyết phục cao bằng hiệu quả kinh tế - xã hội và tính bền vững.

- Đẩy mạnh công tác phối hợp. Trước hết là rút ra kết quả và hạn chế đã qua trong thực hiện phối hợp với các cơ quan chức năng thuộc Sở Nông nghiệp – Phát triển nông thôn để bổ sung điều chỉnh quy chế phối hợp; trong đó rất quan trọng là sự gắn kết giữa các chi hội thủy sản với cán bộ kỹ thuật tại cơ sở của Sở. Phối hợp với các Viện, Trường trong cải tiến về kỹ thuật, nghiên cứu thực hiện các đề tài và mô hình; Hội làm trung gian kết nối giữa các công ty, doanh nghiệp, các mạnh thường quân với người sản xuất.

- Hệ thống hội, nhất là chi hội tích cực tham gia chuỗi sản xuất. Sẽ đánh giá lại hạn chế đã qua trong tổ chức xây dựng chuỗi sản xuất để có giải pháp cụ thể phù hợp. Chủ yếu và trước hết là khắc phục lợi ích cục bộ của các bên, cùng hướng về mục tiêu phát triển. Chuỗi sản xuất là yêu cầu khách quan, là trách nhiệm của các bên. Những sản phẩm không nằm trong chuỗi liên kết sẽ khó tiêu thụ, thậm chí thị trường từ chối. 

- Hội tích cực tác động tốt các yếu tố đầu vào của sản xuất như chất lượng, giá cả vật tư, phát triển hệ thống phân phối thuận lợi; đồng thời tổ chức tốt đầu ra, ngoài xây dựng chuỗi liên kết còn quan tâm đúng mức về tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm phù hợp yêu cầu thị trường, xây dựng và bảo vệ nhãn hiệu, tạo điều kiện cho các tổ chức và hộ sản xuất quảng bá sản phẩm.

- Cung cấp thông tin thị trường, dự báo ngắn, trung và dài hạn để tổ chức và hộ sản xuất quyết định phát triển sản phẩm phù hợp và có lợi nhất./.

PVĐ