Đó là dòng sông đã chứng kiến bao thăng trầm của người dân nơi đây còn ẩn dấu nhiều sự kiện qua các thời kỳ lịch sử của vùng đất mà “Nơi con sông mùa xa mưa nước đổ/ Nơi chân trời mát mẽ bóng tràm xanh/ Nơi những người thương đang ở/ Từng chiếc lá rơi cũng xao động tâm tình”([1]).            

Đó là một dòng sông hữu ngạn của sông Trèm Trẹm chảy qua vùng đất huyện U Minh trên 40km ra biển Tây, và con sông này không biết có tự bao giờ mà cái tên rất lý thú “Cái Tàu” được giải thích nhiều giai thoại khác nhau([2]), nhưng cách giải thích có mang tính chất sự kiện được nhiều lão nông tri điền kể: ngày xưa nơi đây nhân dân có đắp cái cản ngăn tàu giặc không cho vào, nhưng không biết sao từ “Cái cản tàu” mà thành Cái Tàu, chắc có lẽ nhân gian nơi đây gọi cho gọn để dễ nhớ, nên từ “Cái cản tàu” thành Cái Tàu chăng (?) được gọi lưu truyền đến nay.

Trở lại dòng sông, ta nhìn dưới góc độ lịch sử thì nơi đây dòng sông như hội tụ bao sử tích của vùng đất này trong đó có giai thoại về vua Nguyễn Ánh bôn tẩu xuống vùng đất Cà Mau vào khoảng 1772 - 1802 trốn tránh nhiều nơi trong đó có khu vực Cái Tàu, Khoa Giang (sông Ông Đốc ngày nay) đã chứng kiến đoàn quân Tây Sơn truy đuổi đội quân Nguyễn Ánh.

Mùa xuân năm 1872, vùng đất bạt ngàn rừng tràm của xóm Cái Tàu đã diễn ra sự kiện khởi nghĩa yêu nước của hai anh em Đỗ Thừa Luông, Đổ Thừa Tự đã đứng lên huy động hàng trăm thanh niên và nhân dân ở khu vực Khánh An đứng lên khởi nghĩa chống Pháp. Với tinh thần yêu nước hai ông tổ chức cho luyện tập lực lượng và giao cho ông Lão Bang đi chở khí giới từ bên Xiêm (Thái Lan) về trang bị cho nghĩa quân, nhưng không may vũ khí về tới cửa sông Khoa Giang (sông Ông Đốc) bị kẻ thù chặn lấy, nhưng hai ông vẫn kiên cường, phát huy tinh thần yêu nước của nghĩa quân tìm cách phòng thủ, sẵn sàng tìm mọi cách ngăn cản chống lại kẻ thù ([3]). Trước sự đàn áp tàn bạo của thực dân Pháp và tương quan lực lượng không cân sức nên cuộc khởi nghĩa của hai ông thất bại (giữa năm 1875), nhưng để lại tinh thần yêu nước và ý chí bất khuất, quật cường đấu tranh chống ngoại xâm. Nhân dân nơi đây có câu hát để nhớ: “Xứ Cái Tàu có nhiều nhà quốc sự/Thừa Luông, Thừa Tự với chú Lão Bang/Thiệt là dạ sắt gan vàng/Thù Tây nổi dậy cả làng cùng theo”.

Và vùng đất này đã sản sinh người con ưu tú làm rạng rỡ cho quê hương Cà Mau, đó là đồng chí Huỳnh Não[4] (Huỳnh Quảng) quê Khánh An, người được vào Đảng và trở thành cán bộ lãnh đạo cao cấp đầu tiên của vùng đất cực Nam của Tổ quốc. Đồng chí từ giả quê hương vào trường trung học Cần Thơ và tham gia vận động học sinh, sinh viên bãi khóa đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh và làm lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh đã bị bọn thực dân Pháp theo dõi và cấm không cho học. Trước tình hình đó, đồng chí cùng một số người bạn sang Quảng Châu (Trung Quốc) để tìm đường học hỏi làm cách mạng về góp phần tham gia chống Pháp; rất may đến Quảng Châu đồng chí đã được bộ phận của Tổng bộ Việt Minh - Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội giúp đỡ và tạo điều kiện cho đồng chí và anh em được học tập, bồi dưỡng kết nạp vào tổ chức Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng. Vào mùa thu năm 1929, đồng chí được đưa về nước vào tổ chức An Nam Cộng Sản Đảng, lúc bấy giờ đồng chí là một trong những cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng được phân công phụ trách tuyên truyền, báo chí. Đến năm 1930 đồng chí là Thành ủy viên và được cấp ủy tín nhiệm bầu làm Bí Thư Thành ủy (tháng 7 năm 1930). Như vậy, người con ưu tú của dòng sông Cái Tàu - Cà Mau là chiến sĩ Cộng sản kiên cường, bất khuất một lòng, một dạ trung thành với Đảng và nhân dân như trong lời nói cuối cùng của đồng chí để lại: “Tôi đã làm tròn nhiệm vụ của một đảng viên cộng sản([5]). Nhớ công ơn đồng chí, thành phố Hồ Chí Minh đặt con đường mang tên đồng chí.

Mùa thu Cách mạng tháng Tám năm 1945, con sông này lại đón nhận chiếc tàu đặc biệt có thành tích đưa tù chính trị Côn Đảo về đất liền theo chủ trương của Đảng ta. Tàu thực hiện nhiệm vụ ra đón 02 lần trong đó có các đồng chí lãnh đạo của Đảng như đồng chí Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng, Lê Văn Lương… và nhiều đồng chí khác. Tàu  Phú Quốc cùng với 23 chiếc ghe biển khác đã chuyển trên 1.500 tù chính trị về đất liền cập bến ở Đại Ngãi (Sóc Trăng).

Riêng chiếc tàu Phú Quốc khi hoàn thành nhiệm vụ đưa tù Côn Đảo về đất liền an toàn còn tiếp tục làm nhiệm vụ chuẩn bị cho kháng chiến chở lương thực, vũ khí - công xưởng ở Sài Gòn và máy móc của một số tỉnh Nam bộ để nhằm phục vụ cho xây dựng căn cứ kháng chiến. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng mà chiếc tàu Phú Quốc đã kịp thời đưa về vùng U Minh. Khi đến sông Cái Tàu ngày 18/3/1946, nhận được mật tin khẩn cấp là địch sắp tổ chức cuộc càn lớn vào U Minh, nên Bộ chỉ huy Phân Liên Khu miền Tây hạ lệnh cho tàu chìm sâu dưới sông để không cho địch phát hiện. Vì thế, đêm 29/3/1946 tất cả cán bộ và thủy thủ của tàu khẩn trương khuân vác vật tư, hóa chất, nguyên liệu của binh xưởng di chuyển cất giấu và đục tàu cho chìm ngay trong đêm để không cho lọt vào tay giặc. Dòng sông Cái Tàu bấy giờ trở thành một dấu tích  của lịch sử những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ. Nếu tính đến hôm nay (năm 2020) thì 75 năm rồi di tích đáng quý vẫn còn im lặng dưới dòng sông của năm nào. Như trong công văn số 1352-CV/BT của Bộ văn hóa -Thông tin ngày 19/5/1994 gửi Bộ tư lệnh quân khu 9 và Sở văn hóa Thông tin Minh Hải đã ghi: Đây là chiếc tàu có nhiều chiến công cùng đưa trên 1.500 tù chính trị Côn Đảo về đất liền và đề nghị “có kế hoạch tìm kiếm bảo vệ và trục vớt con tàu để trưng bày phục vụ khách tham quan tại bảo tàng…” nếu được như vậy là có ý nghĩa rất lớn góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho tỉnh nhà và đất nước chúng ta.

Khi các cơ quan Xứ ủy chuyển xuống vùng căn cứ U Minh năm 1949 thì Cái Tàu là một trong những điểm được chọn cho những đơn vị của Xứ ủy như cơ quan, trường đào tạo của Xứ, đặc biệt là gia đình bảo vệ nuôi đồng chí Lê Duẩn và các cơ quan được an toàn. Đến năm 1954 Cái Tàu cũng là vùng nằm trong khu vực tập kết 200 ngày; nhân dân nơi đây náo nức băng, cờ, xuồng ghe rộn rả trên sông kéo ra thị trấn Cà Mau để dự mít tinh đón mừng ngày hòa bình và tiễn đưa người đi, người ở tập kết ra Bắc như trong bài “Một tấm lòng” của đồng chí Nguyễn Thanh Vân, cán bộ tiền khởi nghĩa ghi lại rất cảm động: “Anh đi làm bổn phận, em ở nhà lo chăm sóc cha mẹ già, nuôi dưỡng chăm sóc con chắc khó khăn lắm, em cố gắng 18 tháng anh về…”“Anh ôm đứa con vào lòng, nắm chặt tay chị không muốn buôn ra, bịn rịn ngẹn ngào nói: “Anh đi mạnh giỏi, ở nhà em sẽ làm tốt như lời anh dặn và đợi anh về…”  

Sau chuyến tàu tập kết cuối cùng ngày 8/2/1955 tại sông Ông Đốc là buổi chia ly trở thành sự thật và bây giờ dòng sông quê hương nặng nợ thủy chung, bước vào cuộc chiến mới “Ta còng lưng ngùi  đau khổ/Vào rừng sâu căn cứ xây làng”“Buổi chiều trèo cây nhìn xóm cũ/ Trơ trọi nốp đồn đè nặng bờ sông”([6]). Đây là thời kỳ ta gặp nhiều khó khăn giữ gìn lực lượng trong xây dựng thực lực cách mạng, chuẩn bị cho Đồng khởi - giải phóng nông thôn. Từ đó, làng rừng Khánh An xuất hiện là một trong những Làng rừng được hình thành sớm trong tỉnh để tạo ra thế và lực mới cho cách mạng. Nói cách khác Làng Rừng là một hình thái độc đáo của phong trào cách mạng chống lại lực lượng phản cách mạng ở thời kỳ địch thực hiện luật 10/59 (đưa cộng sản ra ngoài vùng pháp luật để tiêu diệt) mà phong trào cách mạng vẫn tiếp tục phát triển. Trong lời phát biểu tại cuộc tọa đàm năm 1992 của đồng chí Nguyễn Văn Đáng (Tư Hườn), nguyên bí thư huyện ủy huyện Trần Văn Thời và Bí thư tỉnh ủy Minh Hải về Đồng khởi Cà Mau đã kể: Khi thực hiện chủ trương của Đảng ta chuyển hướng giữ gìn lực lượng thì ở huyện Trần Văn Thời có đưa một số cán bộ nòng cốt của ta bí mật cắm vào (đưa vào) bộ máy, hàng ngũ của địch để làm nội tuyến chờ khi có thời cơ khởi nghĩa. Lúc bấy giờ huyện đã đưa đồng chí Phạm Lai (Tư Lai) vào đồn Cái Tàu, từng bước cảm hóa được một số binh sĩ địch và cùng phối hợp với lực lượng ta khởi nghĩa tiêu diệt đồn Cái Tàu vào ngày 28/8/1959, giải phóng gần 200 gia đình bị kìm kẹp và thu nhiều vũ khí trang bị cho lực lượng ta; đồng thời mở ra phong trào Đồng khởi bằng bạo lực vũ trang không chỉ cho tỉnh mà cả Miền Tây. Hay nói khác, khởi nghĩa ở đồn Cái Tàu tạo ra tình thế mới từ giữ gìn lực lượng tiến lên khởi nghĩa vũ trang kết hợp ba mũi chính trị, binh vận, vũ trang tạo ra thế và lực mới cho Đồng khởi của tỉnh. Cũng tại hồi ký  “Gió mùa Đồng khởi” của đồng chí Đoàn Thanh Vị (Ba Vị) nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy đã ghi: “Đồng khởi của Cà Mau đến rất sớm, có từ cuối năm 1959, nó từ “Làng rừng” kéo ra phối hợp với lực lượng bên ngoài nổi dậy làm cho bọn tề nông thôn lúc bấy giờ hoảng sợ bỏ chạy nên ta giải phóng rộng rãi khắp nông thôn Cà Mau…”   

Khí thế Đồng Khởi phát triển lan rộng, dòng sông Cái Tàu này đã diễn ra sự kiện hiếm có mà nhân dân nơi đây gọi là “bắt sống” tàu giặc, Thực chất là lực lượng vũ trang của ta đã chặn đánh 02 FOM của địch chúng trở tay không kịp, bắt được nhiều tù binh và thu toàn bộ vũ khí, chiến lợi phẩm chiếc tàu địch như tên Trung tá Tỉnh trưởng  An Xuyên lúc bấy giờ thú nhận: 02 chiếc FOM vừa tới tọa độ W0111-351 vào lúc 15 giờ, bất thần bị Việt cộng phục kích tiêu diệt tại Rạch Giồng Ông làm mất liên lạc từ phút đầu ta bị thiệt hại, việt cộng làm chủ tình hình”([7]). Trước tình hình đó, ta kịp thời vận động quần chúng cùng với lực lượng vũ trang tổ chức cho tàu đò và lực lượng nhân dân kéo, đẩy tàu địch biểu diễn chiến thắng trên sông Cái Tàu và dừng lại ngang thánh thất Long Quang trên sông Cái Tàu làm mít tinh ăn mừng chiến thắng, cả ngàn người tham dự, xuồng, ghe chật nứt khúc sông.

Sau đó, ta huy động cả ngàn lực lượng của 03 xã Khánh An, Nguyễn Phích, Khánh Lâm tập trung đốn cây, đào kinh giữa rừng để kéo 02 chiếc FOM đi cất giấu (phi tang không cho địch phát hiện). Với khí thế thắng lợi, các lực lượng đào dọn liên tục ngày đêm; đào đến đâu kéo tàu giấu đến đó và ngụy trang mất dấu tích không cho địch thấy. Với tinh thần chiến thắng, lực lượng ta say sưa làm quên đi mệt mỏi, miễn sao kéo tàu được đưa sâu vào rừng để cất giấu hơn 10 cây số. Con kinh đào dấu tàu ngày ấy, hôm nay được bà con gọi là kinh Kéo Tàu (một chứng tích lịch sử).

Khi chiến tranh phát triển, mật độ bom đạn càng cao, kẻ thù đánh phá càng ác liệt và mở nhiều chiến dịch, chiến thuật với nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại kể cả pháo đài bay B52 đánh vào vùng cách mạng trong đó có khu vực Cái Tàu - U Minh làm cho dòng sông đục ngầu, khét mùi bom đạn, nhưng nhân dân Cà Mau nói chung, quê hương Cái Tàu vẫn bám đất, giữ làng,  lập nên nhiều chiến công xuất sắc, góp phần bẻ gãy nhiều trận càn, nhất là chiến dịch “Nhổ cỏ U Minh” của kẻ thù.

Trở lại dòng sông này ta không khỏi xao xuyến của vùng đất như một trang sử oai hùng, góp phần làm nên những kỳ tích của dân tộc. Và cũng dòng sông ấy, hôm nay đã lấp lánh những dòng điện sáng ngời Khí - Điện - Đạm và làm cho tươi mát cánh rừng, cho quê hương ngọt ngào cây trái, cho con người rạng rỡ với thời gian…./.

Hữu Thành

 


[1] “Trở lại U Minh”của nhà thơ Nguyễn Bá

[2] Có giai thoại là nơi đây có người Tàu đến định cư sớm nên gọi là “Cái Tàu”

[3] Sau này ta nhổ được cây cọc làm cản  lâu đời còn sót lại trên sông Cái Tàu

[4] Có tên Hoàng Truyền, Trần Văn Minh

[5] Đồng chí mất vào ngày 6/9/1931

[6] Thơ Nguyễn Bá

[7] Theo công văn số “mật”  3/64 QV-3-K do Tỉnh trưởng Trung tá Phạm Văn Út ký ngày 03/11/1961