Cà Mau nuôi tôm càng xanh (tôm càng) phát triển ngày càng mạnh; hiện nay diện tích nuôi nhiều hơn hàng ngàn lần so với 10 năm trước và đang tiếp tục tăng thêm vì thích hợp điều kiện sống của tôm và hiệu quả kinh tế - xã hội cao.

Thực trạng nuôi tôm càng ở Cà Mau

Hơn 10 năm trước, một ít hộ với vài ha ở huyện Thới Bình nuôi tôm càng xen trong ruộng lúa có hộ thành công, hộ chưa thành công. Sở Thủy sản (nay là sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn) tập hợp các chuyên gia tổ chức rút kinh nghiệm và biên soạn tài liệu kỹ thuật hướng dẫn cho dân, đồng thời xây dựng một số mô hình, tổ chức tập huấn, hội thảo đầu bờ. Hiện nay Trung tâm Khuyến nông (ghép 2 Trung tâm Khuyến nông và Khuyến ngư) đã hoàn thiện tài liệu kỹ thuật đang áp dụng rộng rãi.

Hình thức nuôi hầu hết là tôm càng kết hợp vụ lúa. Hàng năm Cà Mau có khoảng 14.000 - 15.000 ha, tập trung ở huyện Thới Bình hơn 12.000 ha. Tìm năng phát triển tôm càng còn rất lớn. Huyện Thới Bình có thể khai thác nuôi đến 20.000 ha, trên tổng số 25.000 ha tôm - lúa; ngoài ra còn huyện U Minh và huyện Trần Văn Thời có vùng ngọt khá lớn; toàn tỉnh Cà Mau khoảng 45.000 ha tôm - lúa, như vậy nếu có giải pháp tốt thì diện tích nuôi tôm càng kết hợp lúa gần ba lần hiện nay; mặt khác các ao vườn nếu được khai thác thì diện tích lớn hơn. Ngoài hình thức tôm càng nuôi xen ruộng lúa thì có một ít hộ nuôi xen cả tôm sú thả mật độ thấp (1.000 con/ha) kết quả mang lại có tính thuyết phục hơn. Xen canh các đối tượng thích hợp sẽ tác động cho nhau phát triển.

Theo ông Nguyễn Hoàng Lâm, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thới Bình tính hiệu quả cụ thể bình quân của huyện thì năng suất tôm thu hoạch từ 150 – 250 kg/ha; thương lái đến mua tại ruộng tôm từ 100.000 – 180.000 đ/kg; năng suất lúa thu hoạch bình quân 5 tấn/ha, giá lúa khoảng 5.000 đ/kg. Nếu lấy bình quân mỗi ha thì tôm thu hoạch 30 triệu, lúa 15 triệu. Chi phí nuôi tôm và ngày công lao động xấp xỉ với sản xuất lúa, kỹ thuật không phức tạp. Ngoài việc tăng giá trị thu được trên một diện tích đất còn giải quyết thêm việc làm cho người lao động nông thôn. Thu nhập tăng lên, đời sống người dân cải thiện là nguồn lực thiết thực thực hiện các chương trình phát triển nông thôn.

Nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa

Anh Trần Văn Tuấn ở ấp 11, xã Biển Bạch cho biết: năm 2016 với diện tích mặt nước ruộng của gia đình gần 3 ha sử dụng hình thức xen canh vụ lúa – vụ tôm càng và luân canh 2 vụ sú (sú giống dèo trước); diện tích trồng lúa thấp hơn vì trừ kênh mương. Kết quả: lúa thu hoạch hơn 3 tấn, trừ chi phí còn lợi nhuận khoảng 10 triệu đồng; vụ tôm càng doanh thu 65 triệu đồng, chi phí 14 triệu đồng, lợi nhuận 51 triệu đồng; 2 vụ tôm sú doanh thu 180 triệu đồng, chi phí 30 triệu đồng, lợi nhuận 150 triệu đồng. So sánh: các vụ tôm lợi nhuận 200 triệu/10 triệu đồng vụ lúa. Anh Tuấn chưa phải điển hình tiêu biểu mà là trường hợp phổ biến ở vùng tôm lúa kết hợp.    

Thu hoạch tôm càng xanh

Một số thuận lợi chủ yếu nuôi tôm càng kết hợp vụ lúa

 Tôm càng xanh là đối tượng nuôi được xác định trong Đề án Tái cơ cấu lại kinh tế nông nghiệp, các chương trình phát triển thủy sản, một số cơ chế, chính sách, các kế hoạch phát triển của các địa phương…

Các yếu tố về môi trường tự nhiên thích hợp điều kiện sống của tôm càng xanh. Nhiều tỉnh không thuận lợi về điều kiện tự nhiên thì dù cố gắng cải tạo chi phí cao và cũng khó nuôi được. Quỹ đất đang canh tác tôm – lúa, chuyên lúa 01 vụ, ao đầm, mương liếp ở Cà Mau còn nhiều. Công trình thủy lợi điều tiết nước ngọt cho lúa tỉ lệ thuận với nuôi tôm. Các ô thủy lợi giữ ngọt trong vùng quy hoạch đang hoàn thiện sẽ đáp ứng việc mở rộng diện tích nuôi.

Một trong những yếu tố quyết định là tính hiệu quả; như thông tin nêu trên có sức thuyết phục mạnh; tôm càng xanh là một trong vài đối tượng kết hợp vụ lúa hiệu quả nhất mà còn phù hợp với vùng hệ sinh thái ngọt ở Cà Mau; so với một số vùng chuyên tôm quãng canh ở Nam Cà Mau thì rủi ro thấp hơn nên tính bền vững cao hơn; phát triển diện tích nuôi tôm càng còn tác dụng ngăn xâm nhập mặn.

Về tay nghề. Những ngày đầu nuôi tôm càng rất khó khăn về kỹ thuật; thành công ít, thất bại nhiều, song xác định là đối tượng thích hợp nên nhiều người kiên trì. Từ kinh nghiệm thực tiễn, học tập các nơi, được Trung tâm Khuyến nông và các cơ quan chuyên ngành tập huấn, đến nay hầu hết hộ sản xuất đều nắm được quy trình kỹ thuật.  

Một số khó khăn chủ yếu đang quan tâm giải quyết

Chủ động giữ ngọt còn hạn chế do các chương trình thủy lợi trên vùng ngọt hóa chưa hoàn thiện; bờ bao khuôn hộ, liên hộ chưa tốt. Hiện còn nhiều diện tích đang chờ đầu tư kết cấu hạ tầng thủy lợi để điều tiết nước, kéo dài thời gian ngọt sẽ nuôi được tôm càng. 

Kinh tế hộ đang là lực cản cho khai thác sức mạnh cộng đồng. Nếu có các tổ chức kinh tế tập thể sẽ giải quyết được ít nhiều khó khăn về: vốn, môi trường, lao động, kỹ thuật, tiếp thị…

Như phân tích trên; tôm càng đực tăng trưởng nhanh hơn, hiệu quả hơn, song các cơ sở sản xuất cho ra số lượng giống thấp xa so yêu cầu; giá cao hơn khoảng 3 lần giống thường; vì vậy hiện nay Cà Mau sử dụng giống toàn đực chỉ khoảng 20%. 

Giải pháp chủ yếu nên tập trung giải quyết

Rà soát lại quy hoạch đảm bảo yếu tố khoa học và thực tiễn theo hướng khai thác tốt nhất quỹ đất, tạo điều kiện mở thêm các hình thức xen canh, luân canh hiệu quả; giữ vùng hệ sinh thái ngọt ở quy mô hợp lý; quy hoạch này cần thể chế thành nghị quyết Hội đồng nhân dân, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, lòng ghép vào các chương trình của các ngành trong vùng, vận động nhân dân thực hiện đúng quy hoạch.

Khai thác tốt nhất sức mạnh cộng đồng. Trong đó việc xây dựng các tổ chức kinh tế tập thể, phát triển doanh nghiệp góp phần giải quyết những khó khăn hiện nay; cũng từ các tổ chức này xây dựng chuổi giá trị, qua đây buộc người sản xuất phải đưa ra sản phẩm đúng tiêu chuẩn thị trường yêu cầu, sản phẩm có sức cạnh tranh, dễ tiêu thụ.  Nhà nước có nhiều chính sách, cơ chế thực hiện mục tiêu này; vấn đề là các ngành và địa phương cố gắng vận dụng linh hoạt sát thực tiễn. 

Đã có quy trình kỹ thuật chuẩn, song thực tiễn phong phú và diễn tiến không ngừng, vì vậy các cơ quan chuyên ngành phải cập nhật bổ sung, đồng thời chuyển giao kịp thời cho người sản xuất. Quy trình kỹ thuật đang phổ biến chủ yếu là kết hợp tôm lúa; cần nghiên cứu thêm các hình thức nuôi khác như: nuôi chuyên trong vùng ngọt, trong các ao đầm theo dạng bán thâm canh, thâm canh; nuôi xen thêm đối tượng thứ ba như lúa, tôm càng, tôm sú (mật độ thấp) …

Nâng tỷ lệ thả nuôi giống tôm càng toàn đực. Nhà nước tác động các Viện, Trường nghiên cứu tốt hơn quy trình sản xuất giống tôm càng toàn đực; khuyến cáo các sơ sở đã có quy trình tốt mở rộng sản xuất; tạo thuận lợi nhập bổ sung giống toàn đực của nước ngoài. Nếu được vậy thì số lượng giống cung cấp nhiều lên và giá sẽ giảm xuống, tất nhiên giá cao hơn giống thường và người nuôi nên chấp nhận.

Có giải pháp kéo dài thời gian nuôi để tôm đủ lớn. Do kết hợp với vụ lúa, giữ ngọt không dài nên khi thu hoạch ít được tôm lớn, chưa được giá. Có thể tăng thời gian dèo giống, dùng giải pháp thủy lợi kéo thêm thời gian ngọt, sử dụng các mương ruộng lúa để gom một phần tôm từ mặt ruộng…

Hiện nhiều người đang áp dụng các kỹ thuật do Trung tâm Khuyến nông hướng dẫn và kinh nghiệm thực tiễn để cải tạo ruộng nuôi rất hiệu quả như: tôn bờ giữ nước, điều chỉnh các yếu tố của nước, vệ sinh ruộng nuôi, chăm sóc sức khỏe tôm, thu hoạch bắt tỉa tôm lớn trước…

Tôm càng xanh đã, đang và sẽ được xem là một trong các đối tượng quan trọng trong phát triển nông nghiệp của tỉnh Cà Mau./.

Vài đặc điểm của tôm càng xanh theo nghiên cứu của Đại học Cần Thơ

và một số nhà khoa học về thủy sản

Vòng đời tôm càng có 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng, tôm sinh trưởng. Tôm trưởng thành sống và giao vĩ ở vùng nước ngọt, sau đó chúng di cư ra vùng nước lợ có độ mặn từ 6 – 18 ‰; ấu trùng nở ra sống phù du trong nước lợ. Sau lột xác 11 lần tôm di chuyển vào vùng nước ngọt.

Tôm càng là loài ăn tạp nghiêng về động vật, thức ăn tự nhiên của chúng là các loại nguyên sinh động vật, giun nhiều tơ, giáp xác, côn trùng, nhuyễn thể, các mảnh cá vụn, các loại tảo, mùn bã hữu cơ và cát mịn. Nó xác định thức ăn bằng mùi và màu sắc.

Kích thước tôm tăng nhanh qua mỗi lần lột xác. Tốc độ sinh trưởng của tôm đực và tôm cái tương đương đến khi chúng đạt kích cở 35-50g; sau đó tôm đực sinh trưởng nhanh hơn tôm cái; có thể đạt gấp đôi trọng lượng trong cùng thời gian.

Môi trường sống thích nghi nhiệt độ từ 18-34oC, tốt nhất là ở 26-31oC; pH thích hợp từ 6,5-8,5, Oxy hòa tan > 3 mg/l …, dưới mức này hoặc vượt mức bảo hòa đều gây ra tác hại. Tôm càng thích hợp ánh sáng ở cường độ 400 lux. Không ưa ánh sáng có cường độ cao nhưng lại có tính hướng quang vào ban đêm; khi thả mồi vào ban đêm nên tạo ánh sáng thích hợp cho tôm tập trung.

Các đặc điểm sống nêu trên phù hợp với điều kiện ở Cà Mau. Từ thuận lợi “trời cho” nên các yếu tố tự nhiên ở đây hầu hết đạt được những đòi hỏi để tôm càng xanh sống và phát triển; tất nhiên người nuôi phải kiểm tra điều chỉnh thêm; nghĩa là phải kiểm soát hoàn toàn môi trường. Các yếu tố nào chưa phù hợp ở từng ruộng tôm cũng không nhiều, đều có khả năng cải tạo và chi phí cũng không cao.

Ngọc Linh